vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Công P đối với bà Nguyễn Hoàng S về: “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Xác định ông Đoàn Công P là cha đẻ của cháu Đoàn Mộc Nhã A, sinh ngày 28/4/2019 theo Giấy chứng sinh số 47 quyển số 05 cấp ngày 28/4/2019 của Bệnh viện Bà Rịa. Ông Đoàn Công P và bà Nguyễn Hoàng S được quyền liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Đoàn M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác nhận cha cho cho P - S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Công P đối với bà Nguyễn Hoàng S về: “Tranh chấp xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-7-2023
V/v “Tranh chấp xác định
cha cho con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Phương

2. Bà Trần Thị Lệ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2023/TLST-HNGĐ ngày 18-5-2023 về “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐST – HNGĐ ngày 26/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đoàn Công P, sinh năm: 1992

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố T1, phường P1, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 11, khu phố T2, phường P2, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh K, sinh

năm 1993

Địa chỉ: Tổ 20, khu phố B, phường X, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Đoàn Công P trình bày:

Năm 2018 ông P chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Hoàng S, trong thời gian chung sống thì bà S mang thai, đến ngày 28/4/2019 bà S sinh 01 cháu gái đặt tên là Đoàn Mộc Nhãn A. Ông P xác định cháu Đoàn Mộc Nhã A là con chung của ông và bà S.

Thời điểm ông P chung sống như vợ chồng với bà S thì bà S chưa ly hôn với ông Nguyễn Minh K. Tuy nhiên bà S và ông K đã sống ly thân. Đến năm 2021 bà S hoàn tất thủ tục ly hôn với ông K. Ngày 11/10/2021 ông P và bà S đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường P1, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau đó thì làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu A tại UBND phường P1 nhưng bị từ chối vì cháu A được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của bà S và ông K.

Do đó, nay ông P khởi kiện yêu cầu Toà án xác nhận cháu Đoàn Mộc Nhã A, sinh ngày 28/4/2019 có cùng huyết thống cha con với ông P để ông có căn cứ làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu A theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra ông P không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 26/6/2023 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn bà Nguyễn Hoàng S trình bày:

Bà S thống nhất với toàn bộ phần trình bày của ông Đoàn Công P.

Trước đây bà S và ông Nguyễn Minh K là vợ chồng. Khoảng năm 2016 thì bà S và ông K phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân. Đến năm 2018 bà S quen biết, phát sinh tình cảm với ông Đoàn Công P và đã chung sống như vợ chồng với nhau. Ngày 28/4/2019 bà S sinh cháu Đoàn Mộc Nhã A. Cháu A là con của bà và ông P. Trong thời gian chung sống như vợ chồng với ông P bà S vẫn chưa thực hiện thủ tục ly hôn với ông K. Đến năm 2021 tại Bản án số 43/2021/HNGĐ – ST ngày 12/5/2021 của Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh K. Ngày 11/10/2021 bà và ông P thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường P1.

Sau đó bà và ông P làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu A tại UBND phường P1 thì bị từ chối vì cháu A được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của bà và ông K.

Nay để có căn cứ làm giấy khai sinh cho cháu A thì bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông P. Bà xác nhận cháu A là con chung của bà và ông P đồng thời yêu cầu Toà án xác nhận ông P và cháu A có quan hệ huyết thống cha con.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2023 ông Nguyễn Minh K trình bày:

Trước đây ông là chồng của bà Nguyễn Hoàng S. Đến năm 2021 ông và bà S ly hôn tuy nhiên trước đó khoảng từ năm 2018 ông và bà S đã sống ly thân. Ông K xác nhận ông và bà S chỉ có 02 con chung là Nguyễn Thuỳ Nhã Đ, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 11/4/2015. Đối với người con sinh năm 2019 của bà S ông khẳng định không phải là con chung của ông và bà S. Ông K không có ý kiến gì đối với yêu cầu xác nhận cha cho con của ông P và bà S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu quan điểm:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, K hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

- Đối với nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Công P đối với bà Nguyễn Hoàng S cụ thể:

Tại Kết luận giám định số 3935/KL – KTHS ngày 19/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công A kết luận: Ông Đoàn Công P và bé gái (SN: 28/4/2019) có quan hệ huyết thống cha – con.

Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xác định ông Đoàn Công P và cháu Đoàn Mộc Nhã A, sing ngày 28/4/2019 có quan hệ huyết thống cha con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, quan hệ pháp luật vụ án là: “Tranh chấp xác định cha cho con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Ông Nguyễn Minh K có đơn xin vắng mặt vì vậy căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử K hành xét xử vắng mặt đối với ông K.

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đơng sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định: Ông Đoàn Công P và bà Nguyễn Hoàng S đã chung sống như vợ chồng từ năm 2018, trong thời gian này bà S và ông Nguyễn Minh K đang là vợ chồng hợp pháp tuy nhiên bà S và ông K đều xác nhận họ đã sống ly thân. Ngày 28/4/2019 bà S sinh 01 cháu gái theo Giấy chứng sinh được bệnh viện Bà Rịa cấp ngày 28/4/2019, bà S khai tên cha trong Giấy chứng sinh là Đoàn Công P và đặt tên cho cháu gái là Đoàn Mộc Nhã A.

Tại Bản án số 43/2021/HNGĐ – ST ngày 12/5/2021 của Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã giải quyết cho bà S được ly hôn với ông Nguyễn Minh K. Tại Bản án trên về phần con chung chỉ xác định ông K và bà S có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thuỳ Nhã Đ, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 11/4/2015. Ông K và bà S đều xác nhận trong thời kỳ hôn nhân của ông K và bà S thì ông bà chỉ có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thuỳ Nhã Đ, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 11/4/2015.

Tại phiên toà ông P và bà S đều khẳng định cháu Đoàn Mộc Nhã A là con chung của ông bà.

Tại Kết luận giám định số 3935/KL – KTHS ngày 19/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công A kết luận: Ông Đoàn Công P và bé gái (SN: 28/4/2019) có quan hệ huyết thống cha – con.

Từ những phân tích trên có căn cứ xác định ông Đoàn Công P và và cháu Đoàn Mộc Nhã A, sinh ngày 28/4/2019 có quan hệ huyết thống cha – con.

Do đó, căn cứ quy định tại Điều 89, 91 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Công P, cụ thể xác định ông Đoàn Công P là cha đẻ của cháu Đoàn Mộc Nhã A, sinh ngày 28/4/2019.

. Về án phí: Các đương sự miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Điều 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Công P đối với bà Nguyễn Hoàng S về: “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Xác định ông Đoàn Công P là cha đẻ của cháu Đoàn Mộc Nhã A, sinh ngày 28/4/2019 theo Giấy chứng sinh số 47 quyển số 05 cấp ngày 28/4/2019 của Bệnh viện Bà Rịa.

Ông Đoàn Công P và bà Nguyễn Hoàng S được quyền liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Đoàn Mộc Nhã A theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí sơ thẩm: Các đương sự được miễn án phí về tranh chấp xác nhận cha cho con.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).

Cỡ chữ