vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 27/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1.

2/ Buộc ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền nợ gốc và lãi, cụ thể như sau: Nợ gốc là: 24.400.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1.
  • Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH SƠN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/DS-ST
Ngày 27-9-2023
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
tín dụng”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kim Khánh.

2. Ông Nguyễn Thành Công Hào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2023/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N2.

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T – Tổng Giám đốc Ngân hàng N2.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Quang S – Giám đốc Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Theo Quyết định ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N2).

Địa chỉ chi nhánh: Số B đường L, khu phố C, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người được ủy quyền lại: Bà Võ Thị Thanh T1 – Phó Giám đốc Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Theo giấy ủy quyền số 402/UQ-NNNoNT-NS ngày 08/8/2022 của Giám đốc Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận) – Xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ N, sinh năm: 1985 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Địa chỉ liên hệ: Nhà hàng S1, H - Khu K, TP P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Vũ N1, sinh năm 1983 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Võ Thị Thanh T1 là Người được ủy quyền lại của Nguyên đơn - Ngân hàng N2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn khởi kiện đề ngày 08-8-2022 và quá trình tham gia tố tụng, bà T1 trình bày:

Ông Nguyễn Vũ N vay vốn tại Ngân hàng N2 (Sau đây viết tắt là N3 và gọi tắt là Ngân hàng) - chi nhánh huyện N, cụ thể như sau:

- Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn được phê duyệt ngày 09/01/2012.

- Sổ vay vốn số NA 2374209.

- Sổ lưu tờ rời hộ sản xuất vay vốn ngắn hạn tên chủ hộ vay vốn: Nguyễn Vũ N

- Số tiền vay: 30.000.000 đồng.

- Lãi suất: 18.5%/ năm.

- Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất khi cho vay.

- Thời hạn cho vay: 12 tháng.

- Hạn trả nợ cuối cùng: Ngày 02/01/2013.

- Mục đích sử dụng vốn vay: Mua bò.

Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền của khoản vay trên. Tuy nhiên, sau khi vay, ông Nguyễn Vũ N và anh trai là ông Nguyễn Vũ N1 không thanh toán đủ tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông N, ông N1 có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, cụ thể:

- Nợ gốc là: 24.400.000 đồng.

- Nợ lãi tính đến ngày 27/9/2023 là: 49.870.121 đồng.

Tổng cộng: 74.270.121 đồng.

Từ ngày 28/9/2023, buộc ông N và ông N1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N và ông N1 nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

2. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự:

Đại diện cho Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, 228, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

3. Về việc giải quyết vụ án:

Xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Căn cứ vào quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N3, cụ thể như sau:

- Buộc ông N và ông N1 phải chịu trách nhiệm thanh toán cho NHNN số nợ là: 74.270.121 đồng bao gồm nợ gốc là: 24.400.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 27/9/2023 là: 49.870.121 đồng. Đồng thời còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi trả xong khoản nợ gốc phải thanh toán.

- H lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp. Buộc ông N và ông N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:

Ngân hàng N2 khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết về Tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông N và ông N1. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy: Theo thỏa thuận giữa các bên thì mục đích vay vốn là mua bò. Bên vay không đăng ký kinh doanh, thương mại, thỏa thuận không phát sinh vì mục đích kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và cũng không có mục đích lợi nhuận theo như quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Xử lý về sự vắng mặt của đương sự:

Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do và không có ý kiến trình bày, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của N3, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:

Về việc NHNN yêu cầu ông N, ông N1 phải thanh toán tổng số tiền nợ gốc của khoản vay:

Qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Ngân hàng đã phê duyệt cho ông N và ông N1 khoản vay với số tiền là 30.000.000 đồng, thỏa thuận rõ thời hạn cho vay, hạn trả nợ cuối cùng,... Xét thấy: Giao dịch xác lập giữa các bên dựa trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, không trái đạo đức xã hội, có hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng nên được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi vay, ông N và ông N1 không thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc và lãi theo đúng thỏa thuận. Hiện khoản vay đã quá kỳ hạn trả nợ và chuyển sang nợ quá hạn. Việc vi phạm nghĩa vụ của bên vay trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng được pháp luật bảo vệ, vi phạm các thỏa thuận đã ký kết. Ông N1 không trực tiếp ký kết giao dịch nhưng ký thừa kế và đồng ý để ông N đại diện đứng tên người vay để thực hiện các giao dịch với Ngân hàng nên ông phải cùng chịu trách nhiệm về nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng. Do đó, việc NHNN yêu cầu ông N và ông N1 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

Về việc NHNN yêu cầu ông N và ông N1 phải thanh toán số tiền nợ lãi phát sinh:

Xét thấy: NHNN cho ông N và ông N1 vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là: 18.5%/ năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất khi cho vay. Các bên đã thỏa thuận với nhau về thời hạn thanh toán, mức lãi suất cho vay nên việc ... không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Về thời gian, mức tính lãi suất mà Ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn đã được phê duyệt, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 11, Điều 17 Quy chế cho vay của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N4 (đã được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005), khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định. Về khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bên vay phải thanh toán tiền lãi là có cơ sở nên được chấp nhận.

Từ những phân tích trên và xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của N3:

Buộc ông N và ông N1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho N3 số tiền nợ gốc và lãi, cụ thể:

- Nợ gốc là: 24.400.000 đồng.

- Nợ lãi tính đến ngày 27/9/2023 là: 49.870.121 đồng.

Tổng cộng: 74.270.121 đồng.

Kể từ ngày 28/9/2023, buộc ông N và ông N1 còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn được phê duyệt ngày 09/01/2012, Sổ vay vốn số NA2374209, Sổ lưu tờ rời hộ sản xuất vay vốn ngắn hạn tên chủ hộ vay vốn: Nguyễn Vũ N đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- NHNN không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại 2.000.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã nộp thay.

- Buộc ông N và ông N1 phải chịu 3.713.506 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 280, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1.

2/ Buộc ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền nợ gốc và lãi, cụ thể như sau:

- Nợ gốc là: 24.400.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Nợ lãi tính đến ngày 27/9/2023 là: 49.870.121 đồng (Bốn mươi chín triệu tám trăm bảy mươi nghìn một trăm hai mươi mốt đồng).

Tổng cộng: 74.270.121 đồng (Bảy mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn một trăm hai mươi mốt đồng).

3/ Kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc phải trả chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn được phê duyệt ngày 09/01/2012, Sổ vay vốn số NA2374209, Sổ lưu tờ rời hộ sản xuất vay vốn ngắn hạn tên chủ hộ vay vốn: Nguyễn Vũ N đã ký với Ngân hàng N2, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N2 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N2.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- H lại cho Ngân hàng N2 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, do Ngân hàng N2 chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận nộp thay, theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0005991 ngày 10 tháng 10 năm 2022.

- Buộc ông Nguyễn Vũ N và ông Nguyễn Vũ N1 phải chịu 3.713.506 đồng (Ba triệu bảy trăm mười ba nghìn năm trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ