- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "Đặng Hoàng Lộc,"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/DS-ST Ngày: 18-8-2023 V/v “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải
Ông Phạm Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2023/QĐXXST-DS ngày 11/7/2023 và quyết định hoãn phiên toà số 112/2023/QĐST – DS ngày 26/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Hoàng L, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 24 N, phường Hoà Cường Bắc, quận H, thành phố Đ. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Thị Thuỳ T, sinh năm 1979 và ông Hồ Văn D, sinh năm 1969. Cùng trú tại: Số 96A đường H, quận Th, thành phố Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Đặng Hoàng Lộc trình bày:
Thông qua mối quan hệ quen biết, vợ chồng bà Phan Thị Thùy Tr và ông Hồ Văn D có gặp tôi xin mượn tiền để kinh doanh làm ăn, phát triển kinh tế gia đình, vì vậy tôi đã đồng ý cho mượn và có làm Hợp đồng vay tiền số công chứng 586 ngày 17/02/2021 tại PCC Trọng Tâm (Đính kèm là hợp đồng vay photo). Căn cứ theo hợp đồng vay này, bên ông D và bà Tr phải trả lại số tiền là: ngày 10/3/2021 phải trả 1.000.000.000đ (một tỷ đồng)/ ngày 30/6/2021 phải trả số tiền: 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng). Tuy nhiên, sau các thời điểm trên, bên ông D và bà Tr đã không trả số tiền trên cho tôi.
Khoản tiền nợ này là nằm ngoài và không trùng với khoản nợ tôi đang khởi kiện theo Thông báo về việc thụ lý án số 318/TB-TLVA ngày 29/12/2022 của Toà Án Nhân Dân quận Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng.
Vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Pháp luật. Tôi yêu cầu bà Tr và ông D phải trả số tiền 3.750.000.000 đồng. Trong đó: tiền gốc 3.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/7/2021 đến ngày 18/8/2023 là 750.000.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Phan Thị Thùy Tr xác nhận còn nợ ông Đặng Hoàng Lộc số tiền số tiền 3.000.000.000 đồng. Do đang gặp khó khăn nên đề nghị ông L tạo điều kiện để vợ chồng bà trả dần.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Đặng Hoàng L khởi kiện đối với bị đơn bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”. Bị đơn có địa chỉ: Số 96A H, quận T, thành phố Đ. Như vậy, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Hồ Văn D và bà Phan Thị Thuỳ Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Đối với yêu cầu khởi kiện số tiền đã vay 3.000.000.000 đồng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đã thể hiện:
Căn cứ Hợp đồng vay tiền có số công chứng 586 ngày 17/02/2023 tại Văn phòng công chứng Trọng Tâm và “Giấy xác nhận nợ” ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc ông Hồ Văn D và bà Phan Thị Thuỳ Tr có vay của ông Đặng Hoàng L số tiền 3.000.000.000 đồng là có căn cứ. Vì vậy giấy xác nhận nợ có ký tên của ông Hồ Văn D và bà Phan Thị Thuỳ Tr là căn cứ để giải quyết vụ án.
Xét ý kiến trình bày của bị đơn bà Phan Thị Thuỷ Tr: Xác nhận vợ chồng bà có nợ của ông Đặng Hoàng L số tiền 3.000.000.000 đồng và tiền lãi. Xét yêu cầu của ông Đặng Hoàng L về việc buộc bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 30/6/2021 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 18/8/2023) thì thấy: Tại phiên toà ông L yêu cầu bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D phải chịu tiền lãi mức lãi suất là 12%/năm là không vượt quá mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nay bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đã phát sinh lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là phù hợp với quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. Do vậy, ông L yêu cầu bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D thanh toán tiền lãi chậm trả từ thời điểm chậm trả là từ ngày 30/6/2021 đến ngày xét xử sở thẩm (ngày 18/8/2023) trên số sư nợ gốc với mức lãi suất 12%/năm là 750.000.000 đồng là có cơ sở, không trái quy định về mức lãi suất cũng như thời gian tính lãi trên khoản tiền gốc bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 351, 401, 463, 466, Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” của nguyên đơn ông Đặng Hoàng Lộc đối với bị đơn bà Phan Thị Thuỳ Trang và ông Hồ Văn Dậu.
Tuyên xử:
1. Buộc bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D phải trả cho ông Đặng Hoàng L số tiền: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó nợ gốc: 3.000.000.000 đồng. Nợ lãi: 750.000.000 đồng tiền lãi tính đến ngày 18/8/2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
- Bà Phan Thị Thuỳ Tr và ông Hồ Văn D phải chịu 107.000.000 đồng (Một trăm lẽ bảy triệu đồng).
- Hoàn lại ông Đặng Hoàng L số tiền 52.000.000 đồng mà ông L đã nộp theo tại biên lai thu số 0008955 ngày 24/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS Q. Thanh Khê; - Lưu Hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hậu TP. CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |