vanban.org

Bản án 51/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 04/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cường trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
Bản án số: 51/2022/HSST
Ngày: 07/4/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn và ông Đoàn Văn Minh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07/4/2022, tại trụ sở TAND quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2022/TLST-HS ngày 21/3/2022 đối với bị cáo:

Mai Tiến C, sinh năm 2001; Giới tính: Nam

Nơi ĐKNKTT: Xóm Đồng Cại, xã Cự Đồng, huyện T, tỉnh P.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông Mai Tiến V và bà Hoàng Thị T

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú, bị cáo bị tạm giữ ngày 05/01/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Có mặt

Người bị hại: Chị Lã Thị Vân A, sinh năm 1995 - Vắng mặt

Nơi ĐKNKTT: Xóm 6, xã Tràng Đà, TP. T, tỉnh T

Nơi cư trú: Số 10, ngách 90, ngõ 445 Nguyễn Khang, phường Yên Hòa, quận C, thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố Thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Mai Tiến C là thợ sơn hiện đang thi công sơn công trình tại tòa nhà S4.01 Vinhome Smart City Tây Mỗ, quận N, thành phố H. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/01/2022, C đi xe ôm từ phòng trọ tại xã Kiêu Kỵ, huyện G, thành phố H đến tòa nhà S4.01 và đi bộ xuống hầm gửi xe của tòa nhà để đi thang máy lên công trình. Khi xuống hầm gửi xe, C phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS 22B2 – 504.52 của chị Lã Thị Vân A để ở cột D21, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản ở trong cốp xe. C quan sát thấy xung quanh không có ai nên lại gần xe máy, dùng chìa khóa đang cắm ở xe để mở cốp xe lục soát thấy trong cốp chỉ có bằng lái xe và đăng ký xe mang tên chị A , C tiếp tục kiểm tra hộp đựng đồ bên dưới tay lái xe máy phát hiện có thẻ gửi xe máy nên nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. C sau đó lấy và điều khiển xe máy đi ra cửa bảo vệ, đưa vé xe và trả tiền gửi xe máy cho bảo vệ để ra khỏi hầm gửi xe và đi về phòng trọ nhưng do sợ mọi người ở phòng trọ phát hiện nên đến khoảng 20 giờ cùng ngày, C điều khiển xe máy đến cửa hàng Việt Motor ở 135 Trưng Vương, Kiêu Kỵ, G, H của anh Nguyễn Việt A để thay dầu xe và gửi xe máy lại cửa hàng của anh Việt A, hẹn hôm sau sẽ qua lấy xe. Sau đó, C về phòng trọ nghỉ ngơi. Khoảng 15 giờ cùng ngày, chị A phát hiện bị mất xe nên đã cùng bảo vệ kiểm tra hình ảnh camera an ninh và phát hiện 01 nam thanh niên đã trộm cắp chiếc xe máy của mình nên đã đến cơ quan Công an phường T trình báo sự việc.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/01/2022, do nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Mai Tiến C đã mang xe máy trộm cắp được đến cơ quan Công an phường Tây Mỗ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: 01 xe máy Honda Vision màu nâu đỏ, BKS 22B2–504.52; 01 đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lã Thị A.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23 ngày 18/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 22B2 – 504.52 đăng ký lần đầu ngày 03/2020, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 27.000.000đ.

Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSNTL ngày 17/3/2022 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với các bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự đã được xử lý xong nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 54 ngày 17/3/2022 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra người bị hại đã có lời khai thể hiện: Sau khi bắt giữ bị cáo, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại đầy đủ. Người bị hại không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với bị cáo và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/01/2022, tại tòa nhà S4.01 Vinhome Smart City Tây Mỗ, N, Thành phố H, Mai Tiến C đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, BKS 22B2-504.52, trị giá 27.000.000đ của chị Lã Thị A .

Hành vi của bị cáo đã phạm tội tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tự nguyện giao nộp chiếc xe trộm cắp cho Cơ quan điều tra để xử lý trả cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại xe và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã giao nộp lại tài sản và được xử lý trả cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xét.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý xong nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh

Tuyên bố bị cáo Mai Tiến C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Mai Tiến C 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2022.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: HĐXX không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ