vanban.org

Bản án 51/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01(một) viên đá có kích thước 10x7cm màu nâu đen, bề mặt sần sùi. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chảo Láo L phạm tội " Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HSST
Ngày 28 -12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Thúy Bình

2. Bà Tưởng Thị Tuyết

Thư ký phiên toà: Bà Thào Thị Ly – Thư ký tòa án nhân dân huyện B

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Long – Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Chảo Láo L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 01/11/1993 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Con ông Chảo Chỉn S và bà Lò Tả Mẩy. Bị cáo hiện đang chung sống cùng Tẩn Lở Mẩy, bị cáo có 02 người con chung lớn nhất sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2019. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/07/2022. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Lào Cai (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Chảo Láo L: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy – Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: anh Lò Diếu V – Sinh năm 1985 Địa chỉ:Thôn V, xã T, huyện B,tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại:Anh Nguyễn Thiện H, sinh năm 1977

Địa chỉ:Tổ 11, phường B, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên tòa).

Những người làm chứng:

1. Chị Lý San M - sinh năm 1983 (có mặt) Địa chỉ:Thôn V, xã T, huyện B,tỉnh Lào Cai.

2. Bà Chảo Tả M – sinh năm 1966 (Vắng mặt) Địa chỉ:Thôn V,xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai.

3. Anh Lò Láo L – sinh năm 1972 (Vắng mặt) Địa chỉ:Thôn V,xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai.

4. Ông Chảo Chỉn S – sinh năm 1967 (Vắng mặt) Địa chỉ:Thôn V, xã T, huyện B,tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/3/2022 Chảo Láo L đi đến khu vực đồi sắn của gia đình nhà Chảo Láo L thì thấy Lò Diếu V cùng vợ là Lý San M đang đào, phá các gốc sắn của gia đình Chảo Láo L, Chảo Láo L liền gọi điện thoại cho bác ruột là Chảo Tả M và anh họ là Lò Láo L nói về việc vợ chồng Lò Diếu V nhổ phá sắn. Chảo Láo L đi đến cách vị trí của Lò Diếu V, Lý San M khoảng 7m để cãi nhau. Lúc này Lò Diếu V cùng Lý San M đi xuống phía chân đồi cách chỗ Chảo Láo L khoảng 22m rồi tiếp tục đào, phá gốc sắn, Chảo Láo L đứng ở phía trên liền dùng chân đạp một viên đá lăn xuống vị trí của Lò Diếu V, Lý San M nhưng không trúng ai, Chảo Láo L tiếp tục cúi xuống dùng tay phải nhặt lần lượt 03 viên đá ném về phía Lò Diếu V, Lý San M, có 01 (một) viên đá có bề mặt sần sùi kích thước khoảng 7x10 cm trúng vào khu vực trán phải của Lò Diếu V làm Lò Diếu V bị thương. Khoảng 10 phút sau Chảo Tả M và Lò Láo L đi đến thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B1- 235.30 của Lò Diếu V dựng ở bãi đất trống do đang bực tức việc vợ chồng Lò Diếu V nhổ, phá sắn của gia đình mình nên Chảo Tả M nảy sinh ý định lấy chiếc xe mô tô của Lò Diếu V để bắt vợ chồng Lò Diếu V phải đền tiền sắn, Chảo Tả M nói với Chảo Láo L “ Nó phá sắn nhiều quá rồi, giữ chiếc xe máy của nó lại để nó đền bù sắn thì trả xe cho nó”, Chảo Láo L nghe thấy liền bảo Lò Láo L “ giữ xe nó lại để nhà em, lúc nào nó đền bù sắn thì trả xe nó” Lò Láo L đồng ý, Lò Láo L đi tắt ngang đồi xuống vị trí nơi để xe máy của Lò Diếu V rồi nói to “ Tôi giữ xe này để nhà ông Sài, xem chúng mày trả sắn như thế nào” đồng thời dắt chiếc xe mô tô của Lò Diếu V về để tại nhà Chảo Láo L, sau đó Chảo Tả M cùng Chảo Láo L đi về nhà Chảo Láo L. Do bị đau vì trước đó bị ném đá trúng đầu nên Lò Diếu V không có phản ứng gì mà đi về nhà. Ngày 11/3/2022 Lò Diếu V đến Công an xã T, huyện B trình báo sau đó Lò Diếu V đi khám và điều trị vết thương tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai ngày 24/3/2022 Lò Diếu V ra viện.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 78A/TgT ngày 14/04/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đã kết luận về thương tích của Lò Diếu V kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Qua quá trình giám định, nghiên cứu hồ sơ bệnh án và các kết quả cận lâm sàng thấy có dấu hiệu chính sau:

Vỡ xương trán phải và trần ổ mắt phải:Tổn thương dây thần kinh thị giác và đường đi do chấn thương. Mắt phải thị lực đếm ngón tay 0,2m.

Trán phải (vùng không có tóc che phủ) có sẹo nền thâm nhắn kích thước (4x0,5)cm.

2. Tại thời điểm giám định:

- Vỡ xương trán phải và trần ở mắt phải, tổn thương dây thần kinh thị giác và đường đi do chấn thương, mắt phải thị lực đếm ngón tay 0,2m: Tổn hại sức khỏe là 35% tại Mục XIII 4 và XV, chương 10, bảng 1.

- Sẹo trán phải (Vùng không có tóc che phủ) kích thước trung bình: Mức tổn hại sức khỏe là 06% tại Mục I.2, chương 8, bảng 1.

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Thông tư số 22/2019/TT- BYT. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 39% (ba mươi chín phần trăm)

Cơ chế chấn thương: Chấn thương trực tiếp

Vật gây thương tích: Vật tày

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL.HĐĐGTS ngày 07/07/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện B, tỉnh Lào Cai kết luận đối với 20 (hai mươi) gốc sắn, mỗi gốc sắn có một thân sắn dài khoảng 20cm đã trồng được khoảng 10 ngày mọc mầm khoảng 03 đến 05 cm, giống sắn cao sản có giá trị tại thời điểm tháng 3/2022 là 20.000đ (hai mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: 01 (một) viên đá có kích thước 10 x7 cm, màu nâu đen, bề mặt sần sùi.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xẩy ra vụ án bị hại Lò Diếu V yêu cầu bị cáo Chảo Láo L phải bồi thường cho anh số tiền là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng). Ngày 27/12/2022 anh Lò Diếu V có đơn xin rút một phần bồi thường về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh các khoản tiền sau: Tiền chi phí điều trị, viện phí là 2.454.900 đồng; Tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần là: 10.000.000đồng; tiền xe đi lại xuống bệnh viện là: 1.000.000 đồng. Tổng cộng bị hại còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền là: 13.454.900 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm đồng).

Cáo trạng số 51/CT-VKSTPLC ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, truy tố bị cáo Chảo Láo L về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 – Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố là theo điểm c khoản 3 Điều 134 – Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 - Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Chảo Láo L phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo với mức án từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47- Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) viên đá có kích thước 10x7cm màu nâu đen, bề mặt sần sùi.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản sau:

- Tiền chi phí điều trị, viện phí là 2.454.900đồng;

- Tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần là: 10.000.000đồng;

- Tiền xe đi lại xuống bệnh viện là: 1.000.000đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là: 13.454.900 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm đồng).

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Chảo Láo L là bà Nguyễn Thị Hương Thủy trình bày lời bào chữa: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, với độ tuổi còn trẻ, không có trình độ phổ thông, hiểu biết, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến sức khoẻ của người khác nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 - Bộ luật Hình sự ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt là 05 (Năm) năm tù để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo nhất trí bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 13.454.900 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy từ mẫu thuẫn nhỏ giữa bị cáo Chảo Láo L và bị hại Lò Diếu V mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là viên đá gây thương tích cho bị hại được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/03/2022 bị cáo Chảo Láo L đã có hành vi dùng viên đá là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho cho anh Lò Diếu V. Mức tổn hại sức khỏe tại thời điểm giám định là 39% (Ba mươi chín phần trăm). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Cố ý gây thương tích". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 – Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện B là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại nhưng bị cáo thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật, có mức án tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có một phần lỗi của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (Một) viên đá có kích thước 10x7cm màu nâu đen, bề mặt sần sùi là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B1- 235.30. Ngày 15/07/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trao trả chiếc xe trên cho Lò Diếu V, Lò Diếu V đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Đối với hành vi Chảo Tả M, Chảo Láo L và Lò Láo L chiếm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B1-235.30, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành tiếp nhận, thụ lý tố giác tội phạm của Lò Diếu V tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ đề nghị xử lý sau.

Đối với Lò Diếu V, Lý San M đã có hành vi phá, nhổ gốc sắn của gia đình Chảo Láo L. Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87, 88/QĐ- XPHC ngày 25/11/2022 về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cá nhân quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 15, Nghị định số 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ mức tiền phạt: 4.000.000 đồng là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xẩy ra vụ án bị hại Lò Diếu V yêu cầu bị cáo Chảo Láo L phải bồi thường cho anh số tiền là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng). Ngày 27/12/2022 anh Lò Diếu V có đơn xin rút một phần bồi thường về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo còn phải bồi thường cho anh các khoản tiền sau:

- Tiền chi phí điều trị, viện phí là 2.454.900đồng;

- Tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần là: 10.000.000đồng;

- Tiền xe đi lại xuống bệnh viện là:1.000.000đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Lò Diếu V số tiền là: 13.454.900 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm đồng). Đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường được cho bị hại số tiền trên.Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền là: 13.454.900 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm đồng). Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Chảo Láo L phạm tội “Cố ý gây thương tích’’. Xử phạt bị cáo Chảo Láo L 5 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/07/2022.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01(một) viên đá có kích thước 10x7cm màu nâu đen, bề mặt sần sùi.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022)

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; khoản 1 Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Chảo Láo L phải bồi thường cho người bị hại là anh Lò Diếu V số tiền 13.454.900 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm đồng) .

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Chảo Láo L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 672.000 đồng (Sáu trăm bẩy mươi hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ