- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Anh D và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Nhật Q và Trần Quốc Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HS-ST Ngày: 28-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đông
Bà Nguyễn Thị Hồng thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-HS ngày 04/01/2022 đối với các bị cáo:
1. Trương Nhật Q, sinh năm 2001 tại tỉnh B. Nơi cư trú: Số 254, đường N, Tổ 84, Khu phố 12, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: Vá xe; trình độ h c v n: 06 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Huỳnh Quang H và bà Trương Ng c L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 17 8 2021 cho đến nay; có mặt.
2. Trần Quốc Anh D, sinh năm 1982 tại tỉnh B. Nơi cư trú: Số 22 3, đường N, Tổ 44, Khu phố 7, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: Không; trình độ h c v n: 05 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Trần Quốc T và bà Chung Thị T; có vợ là Phan Trúc L và 02 người con; tiền án: Ngày 07 6 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 22 5 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ch p hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2020; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2002, bị Công an thị xã T (nay là thành phố T) đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 12 tháng; ngày 15 5 2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; ngày 17 7 2006, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; ngày 04 6 2008, bị Tòa án nhân dân thị xã T xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 04 12 2013, bị Công an thành phố T xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi “Vận chuyển trái pháp ch t ma túy”; năm 2015, bị Công an thành phố T xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giam từ ngày 17 8 2021 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Vũ Phước T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: đường D4, Tổ 11, Khu phố 12, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc Anh D và Trương Nhật Q là các đối tượng nghi n ma túy nên quen biết nhau. Khoảng 19 giờ ngày 16 8 2021, Q đến nhà của D chơi; sau đó, Q bàn với D đi tìm tài sản để trộm, D đồng ý; khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/8/2021, D và Q đi bộ tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản; khi cả hai đi đến nhà số 59, đường D4, Tổ 11, Khu phố 12, phường C, thành phố T (do anh Vũ Phước T làm chủ) th y cửa sổ bên hông nhà không có khung bảo v , nên D đứng ngoài cảnh giới, còn Q trèo lên hàng rào cạy cửa sổ vào trong nhà; Q đi đến tủ nhựa th y có 01 túi xách màu đen và 01 túi xách màu hồng đang để trên tủ, Q mở ngăn kéo tủ nhựa th y có 02 chùm chìa khóa, Q l y 02 túi xách và 02 chùm chìa khóa rồi leo cửa sổ ra ngoài mở 02 túi xách ra th y bên trong có số tiền 330.000 đồng, Q l y tiền bỏ vào túi quần còn 02 túi xách, Q bỏ lại bên hông nhà.
Sau đó, Q đưa 01 chùm chìa khóa cho D để D mở khóa cổng, nhưng D không mở khóa được; Q dùng chùm chìa khóa còn lại mở khóa cổng và cửa chính; sau khi mở được khóa, D đứng trước hiên nhà còn Q đi vào trong nhà dùng chìa khóa mở khóa xe môtô hi u Honda Lead, màu đen, biển số 61B2-286.46 đang dựng trong khu vực nhà bếp và dẫn ra ngoài đường. Do xe có gắn h thống báo động và phát ra nhiều tiếng hú lớn, Q tắt báo động rồi đưa xe cho D chở Q đi về; khi nghe tiếng còi hú báo động của xe, anh Vũ Phước T thức dậy kiểm tra phát hi n bị m t tài sản, nên đến Công an phường C, thành phố Thủ Dầu Một trình báo sự vi c.
Sau khi l y được tài sản, D chở Q đến nhà số 16 14, đường CC, phường P, thành phố Thủ Dầu Một. Tại đây, Q mở cốp xe môtô l y tua vít đưa cho D và đi bộ ra khu vực Chùa H ăn uống; D dùng tua vít mở mặt nạ phía trước xe môtô tháo định vị xe ném bỏ và để xe tại bãi đ t trống rồi đi bộ về nhà. Sau khi ăn uống, Q th y lực lượng Công an truy tìm, nên trốn vào vườn chuối và cởi áo khoác, quần jean ném bỏ tại vườn chuối và g i đi n thoại cho D báo cho D biết lực lượng Công an đang truy tìm, Q ẩn n p đến khoảng 07 giờ ngày 17 8 2021 rồi nhờ bạn chở về.
Sau khi nhận được tin báo của anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một phối hợp với Công an phường C và Công an phường P tiến hành điều tra, xác minh theo định vị gắn trên xe môtô thì phát hi n xe môtô hi u Honda Lead, màu đen, biển số 61B2-286.46 đang ở bãi đ t trống thuộc đường C, phường P, thành phố Thủ Dầu Một. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một thu giữ vật chứng, gồm: Xe môtô hi u Honda Lead, màu đen, biển số 61B2-286.46; 01 túi xách màu đen; 01 túi xách màu hồng; 01 đôi dép có quai hậu màu máu xanh dương; 01 áo khoác nam có nón trùm đầu.
Ngày 17/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một yêu cầu Trần Quốc Anh D và Trương Nhật Q đến làm vi c, qua làm vi c D và Q khai nhận là người đã trộm tài sản của anh Vũ Phước T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra L nh bắt người trong trường hợp khẩn c p đối với D, Q và thu giữ vật chứng, gồm: 01 đi n thoại di động hi u OPPO F7, màu đỏ, có sim số xxxx.xxx.xxx; 01 đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy A10, màu đen, có sim số xxxx.xxx.xxx và xxxx.xxx.xxx.
Tại kết luận định giá tài sản số 199 KLTS-TTHS ngày 19 8 2021 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một kết luận: Xe môtô hi u Honda Lead, biển số 61B2-286.46, trị giá 43.000.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản bổ sung số 06 KLTS-TTHS ngày 10 01 2022 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một kết luận: 01 túi xách màu hồng hi u Sablanca trị giá 300.000 đồng và 01 túi xách màu đen hi u Michael Kors trị giá 800.000 đồng.
Ngày 20/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một trả lại cho anh T xe môtô hi u Honda Lead, biển số 61B2-286.46, 01 túi xách màu đen và 01 túi xách màu hồng. Anh T không yêu cầu Trần Quốc Anh D và Trương Nhật Q phải bồi thường thi t hại.
Vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một gồm: 01 đi n thoại di động hi u OPPO F7, màu đỏ; 01 đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy A10, màu đen; 01 đôi dép có quai hậu màu xám xanh dương và 01 áo khoác nam có nón trùm đầu.
Tại Cáo trạng số 219/CT-VKSTDM-HS ngày 30/11/2021 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Trương Nhật Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Quốc Anh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Nhật Q và Trần Quốc Anh D về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Nhật Q từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc Anh D từ 3 năm 6 tháng đến 04 năm tù.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.
Bị hại không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Trương Nhật Q nói lời sau cùng: Bị cáo r t ân hận về vi c làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Trần Quốc Anh D nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Nhật Q và Trần Quốc Anh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án, biên bản xác định hi n trường và các chứng cứ, tài li u đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/8/2021, tại nhà số 59, đường D4, Tổ 11, Khu phố 12, phường C, thành phố T, Trương Nhật Q và Trần Quốc Anh D đã có hành vi trộm chiếc xe môtô hi u Honda Lead, biển số 61B2-286.46, trị giá 43.000.000 đồng, số tiền 330.000 đồng và 02 túi xách trị giá 1.100.000 đồng, tổng cộng là 44.430.000 đồng của anh Vũ Phước T. Mặc dù, bị cáo D chiếm đoạt tài sản của bị hại có tổng giá trị dưới 50.000.000 đồng; tuy nhiên, bị cáo D đã “Tái phạm” mà lại tiếp tục phạm tội, nên bị cáo D phải chịu trách nhi m hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trương Nhật Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Trần Quốc Anh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự.
Hành vi mà các bị cáo đã thực hi n là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo v ; gây m t trật tự, trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi và ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hi n; do đó, các bị cáo phạm tội với l i cố ý. Với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hi n, cần phải có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội cũng như nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Các bị cáo cùng nhau thực hi n hành vi phạm tội không có sự phân công chặt chẽ, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; tuy nhiên, bị cáo Q là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo bị cáo D phạm tội và là người trực tiếp thực hi n hành vi phạm tội, nên bị cáo Q có vai trò chính trong vụ án; bị cáo D thực hi n hành vi phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo Q.
Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự đối với các bị cáo: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với bị cáo Q: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với bị cáo D: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính ch t, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hi n là nguy hiểm cho xã hội và tình hình trộm cắp tài sản tại địa phương đang diễn biến phức tạp, nên đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật được Hội đồng xét xử ch p nhận. Do các bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Về trách nhi m dân sự: Do bị hại không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thi t hại, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Các bị cáo đã sử dụng đi n thoại di động làm phương ti n phạm tội và liên lạc với nhau để bỏ trốn, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa, bị cáo Trương Nhật Q không yêu cầu nhận lại 01 đôi dép và 01 áo khoác của mình do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 260, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Nhật Q và Trần Quốc Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về trách nhi m hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trương Nhật Q 02 (hai) năm tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù được tính từ ngày 17 8 2021.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Quốc Anh D 04 (bốn) năm tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù được tính từ ngày 17 8 2021.
3. Về trách nhi m dân sự: Không đặt ra.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 đi n thoại di động đã qua sử dụng hi u OPPO F7, màu đỏ, có sim số xxxx.xxx.xxx (không kiểm tra số Imei, chi tiết, tình trạng sử dụng) và 01 đi n thoại di động đã qua sử dụng hi u Samsung Galaxy A10 (vỏ và màn hình trầy nhiều) màu đen, có sim 1 số xxxx.xxx.xxx và sim 2 số xxxx.xxx.xxx (không kiểm tra số Imei, chi tiết, tình trạng sử dụng) của bị cáo Trần Quốc Anh D và Trương Nhật Q.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép quai hậu đã qua sử dụng, màu xám xanh dương và 01 áo khoác đã qua sử dụng có nón trùm đầu, mặt trong màu xanh đen, mặt ngoài màu đen có logo hình lưỡi liềm màu trắng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 039.22 ngày 09/12/2021, giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trương Nhật Q và Trần Quốc Anh D m i bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |