vanban.org

Bản án 51/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/12/2022). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN PHƯỚC
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HS-ST
Ngày 20.12.2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC - TỈNH QUẢNG NAM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Minh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Cước;

Ông Trương Phước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Yến Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 06-12-2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1999; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 05, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; nghề nghiệp; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C, sinh năm 1952 và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1954; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị La Thị Mỹ H, sinh năm 1994, trú tại thôn 06, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đoàn Quốc T1, sinh năm 2000, trú tại thôn 06, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Nam, có mặt;

2. Ông Đoàn Văn K, sinh năm 1963, trú tại thôn 06, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Nam; có mặt;

3. Anh Võ Viết T2, sinh năm: 1984, trú tại: Khối phố B, thị trấn K, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt;

4. Anh Nguyễn T3, sinh năm 2005, trú tại khối phố B, thị trấn K, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt,

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn T3: ông Nguyễn Kim S, sinh năm 1973, trú tại thôn 7b, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Nam và bà Phan Thị Thảo Q, sinh năm 1980, trú tại khối phố B, thị trấn K, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt;

5. Anh Nguyễn Kim H, sinh năm 1978, trú tại khối phố B, thị trấn K, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài cá nhân, sáng ngày 04/9/2022, tại khu vực chợ K, Nguyễn Ngọc B đi dạo bộ tìm đồ ăn sáng trong chợ. Khi đến trước tiệm mỹ phẩm của chị La Thị Mỹ H thuộc khu B chợ K, Nguyễn Ngọc B nhìn thấy túi xách (loại túi xách của nữ, màu nâu của chị H) để trên bục bên phải của tiệm mỹ phẩm (hướng ngoài đường nhìn vào) nhưng không có người quản lý nên nảy sinh ý định trộm cắp túi xách này. Ngay sau đó, B lén lút đi đến trộm cắp cái túi xách của H cất vào ba lô vải của B đang mang trên người rồi quay lại lấy xe 92M1-177.42 đi đến quán mỳ ở gần trường Tiểu học Kim Đồng thuộc khối phố B, thị trấn K ăn sáng. Tại đây, B kiểm tra phát hiện bên trong túi xách vừa trộm cắp của chị La Thị Mỹ H có số tiền 426.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11, màu trắng có gắn ốp lưng nhựa trong và nhiều giấy tờ mang tên La Thị Mỹ H. Lúc này B lấy số tiền 426.000đ ra sử dụng còn điện thoại IPhone 11 và các giấy tờ B bỏ lại trong túi xách cất vào balo vải của B. Sau đó B quay lại tiệm Internet 05 để trả xe cho Toàn và chơi game tại đây.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Ngọc B tiếp tục mượn xe của T1 để đi ăn tối thì được T1 đồng ý. B điều khiển xe 92M1-177.42 mượn của T1 cầm theo balo chứa tài sản trộm cắp đi từ tiệm Internet 05 về hướng Tiên Kỳ. Khi đi đến đoạn đường trước Chi cục Thuế huyện T, B dừng xe lại lấy điện thoại IPhone 11 trộm cắp ra tháo lấy sim số 0396766224 vứt ở lề đường rồi đem điện thoại này đến tiệm điện thoại Tân Tịnh cầm cố lấy 300.000đ hẹn đến ngày 07/9/2022 chuộc lại điện thoại. Đối với túi xách bên trong có nhiều giấy tờ của chị La Thị Mỹ H, B cầm đến cất giấu ở bụi cây gần cầu chìm Sông Tiên. Sau đó B quay lại tiệm Internet 05 trả xe cho T1 rồi bắt xe buýt về nhà. Đến chiều tối ngày 07/9/2022, B đến tiệm điện thoại Tân Tịnh yêu cầu chủ tiệm cầm điện thoại IPhone 11 trước đó lấy thêm 200.000đ và hẹn đến ngày 12/9/2022 chuộc lại điện thoại thì anh Võ Viết T2 (chủ tiệm điện thoại Tân Tịnh) đồng ý đưa thêm cho B số tiền 200.000đ.

Sáng ngày 09/9/2022, Nguyễn Ngọc B đến tiệm Internet 05 để chơi game. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, B hỏi mượn xe mô tô của Nguyễn T3 là bạn cùng chơi game, để đi ăn sáng. T3 đồng ý đưa xe biển số 92H9-1260 (xe của anh Nguyễn Kim H - chú ruột của T3) cho B thì B điều khiển xe đi đến vị trí cất giấu túi xách đã trộm cắp và chủ động liên lạc với chị La Thị Mỹ H nói đã nhặt được túi xách và nhiều giấy tờ tùy thân của H. Qua trao đổi điện thoại chị H nhờ B đem túi xách và các giấy tờ đến tiệm bán mỹ phẩm để trả giúp chị H thì B đồng ý. Khi B đến trả lại túi xách và các giấy tờ thì bị được Công an thị trấn Tiên Kỳ mời về trụ sở để làm việc, qua đấu tranh B đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Tại Biên bản định giá và kết luận giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 40/2022 ngày 24 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam kết luận: giá trị tài sản của chị La Thị Mỹ H tại thời điểm trộm cắp là 12.215.000 đồng và số tiền mặt 426.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 12.641.000 đồng (mười hai triệu, sáu trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSTP-HS ngày 28/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015,

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách án treo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vào sáng ngày 04/9/2022, lợi dụng lúc chị H sơ hở trong việc B quản tài sản, bị cáo B đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 cái túi xách bên trong có 01 chiếc điện thoại di động IPhone 11, số tiền 426.000 đồng và nhiều giấy tờ mang tên La Thị Mỹ H. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 12.641.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 52/CT-VKSTP-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện game, muốn có tiền để chơi game và tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương nên xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo, đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội..

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thì thấy: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo có ông bà ngoại là người có công với Cách mạng được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, cho bị cáo hưởng án treo là đủ nghiêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước.

Về trách nhiệm dân sự:

- Chị La Thị Mỹ H đã nhận lại túi xách, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, toàn bộ giấy tờ và được bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng. Chị H không yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

- Anh Võ Viết T2 đã được bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng. Anh T2 không yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Phước đã trả lại cho chị La Thị Mỹ H tài sản và toàn bộ giấy tờ tùy thân của chị H là phù hợp quy định pháp luật.

- Đối với 01 balo vải màu đen, hình chữ nhật, trên balo có chữ Fashion bằng kim loại màu trắng và chữ Bavita; 01 áo khoác dài tay màu đen bên trong, bên ngoài màu xám rằng ri; 01 áo thun ngắn tay màu xám phía trước bên trái có dòng chữ Adidas; 01 quần Jean dài ống màu xanh. Xét, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pixel 3X1, màu đen, đã qua sử dụng, bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng quy trữ để đảm B thi hành án

Những vấn đề liên quan đến vụ án:

- Đối với Nguyễn T và Đoàn Quốc T cho Nguyễn Ngọc B mượn xe mô tô nhưng không biết rõ B dùng để đi trộm cắp tài sản và đi tiêu thụ tài sản trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Phước không đề cập xử lý đối với T và T1 là phù hợp.

- Võ Viết T2 cầm cố điện thoại di động IPhone 11 nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo Nguyễn Ngọc B trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Phước không đề cập xử lý đối với Võ Viết T2 là phù hợp.

: Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/12/2022). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 balo vải màu đen, hình chữ nhật, trên balo có chữ Fashion bằng kim loại màu trắng và chữ Bavita; 01 áo khoác dài tay màu đen bên trong, bên ngoài màu xám rằng ri; 01 áo thun ngắn tay màu xám phía trước bên trái có dòng chữ Adidas; 01 quần Jean dài ống màu xanh.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pixel 3X1, màu đen, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục quy trữ để đảm B thi hành án.

(Những vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiên Phước theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08 tháng 12 năm 2022).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ