vanban.org

Bản án 51/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Tuyên án 22/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm e, khoản 1, Điều 191; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; các điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HS-ST
Ngày: 22/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Trung

Ông Nguyễn Thị T Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Tạ Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2022/TLST – HS ngày 12 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị T; sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã R, huyện P, tỉnh B. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 07/12; con ông Đỗ Khắc V, sinh năm 1962 và con bà Đỗ Thị X, sinh năm 1960. Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; Bị cáo có 01 con sinh năm 2004.

Tiền án: Ngày 24/01/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 24/7/2020, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Ngày 03/11/2020, bị Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 40.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán Thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 500 bao đến dưới 1000 bao”, chưa chấp hành đóng phạt.

- Nhân thân: Ngày 28/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, hiện đang thi hành án.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặncấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/02/2022, đến ngày 28/3/2022 bị bắt đi thi hành án tại Trại giam Đắk Trung, xã Ea Kpam, huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đỗ Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/01/2022, Đỗ Thị T đang ngồi uống nước tại một quán cà phê gần chợ xã R, huyện P thì có một người phụ nữ tên Năm (không rõ nhân thân, lai lịch) đến làm quen. Qua nói chuyện, người phụ nữ tên Năm thuê T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực xã P, huyện R đến khu vực chợ P, xã T, huyện Đ với tiền công 200.000 đồng/chuyến thì T đồng ý. T đi theo Năm đến lô cao su gần đó và thấy 01 (một) bao tải màu xám bên trong có 05 (năm) cây Thuốc lá hiệu HERO, 01 (một) thùng giấy carton bên trong có 35 cây Thuốc lá hiệu HERO và 10 cây Thuốc lá hiệu JET, loại 10 bao/cây, tổng cộng là 500 bao thuốc lá (400 bao thuốc lá hiệu HERO, 100 bao Thuốc lá hiệu JET). T và Năm đặt bao tải lên gác baga, đặt thùng giấy carton lên yên sau của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 93P1- 562.40, dùng dây buộc lại rồi T điều khiển xe đi giao hàng.

Vào lúc 08 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đang chờ người đến nhận hàng và đưa tiền công tại khu vực ấp T1, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước thì bị Công an huyện Đồng Phú kết hợp Công an xã T kiểm tra, phát hiện lập biên bản, tạm giữ vật chứng niêm phong theo quy định.

Theo Công văn số 95/SCT-TM ngày 19/01/2022 của Sở Công thương tỉnh Bình Phước, xác định: Số lượng tang vật được kiểm tra: 500 (năm trăm) bao Thuốc lá điếu loại 20 điếu/01 bao. Trong đó: 400 (bốn trăm) bao Thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO; 100 (một trăm) bao Thuốc lá điếu nhãn hiệu JET.

Xác định nguồn gốc: Số thuốc lá trên không có tem nhập khẩu, không in hình cảnh báo sức khỏe và chữ viết tiếng Việt. Toàn bộ số thuốc lá nêu trên không đủ điều kiện nhập khẩu và lưu thông tại thị trường Việt Nam. (bút lục 19)

- Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 93P1- 562.40;

+ 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu hiệu HERO, JET (400 bao thuốc lá điếu hiệu HERO, 100 bao Thuốc lá điếu hiệu JET, loại 10 bao/cây, 20 điếu/01 bao);

+ 01 (một) bao tải màu xám; 01 (một) thùng giấy carton.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 12/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Đỗ Thị T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm e, khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52, các điều 38, 50, 56 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”và xử phạt bị cáo T mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung. Tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2021/HS-ST ngày 18/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch T, tiêu hủy 500 (năm trăm) bao Thuốc lá điếu hiệu HERO, JET (400 bao Thuốc lá điếu hiệu HERO, 100 bao Thuốc lá điếu hiệu JET, loại 10 bao/cây, 20 điếu/01 bao); 01 (một) bao tải màu xám; 01 (một) thùng giấy carton.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên nên được xác định là hợp pháp.

- Về tư cách tham gia tố tụng: Ông Phan Ngọc Toàn là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 93P1- 562.40. Anh Toàn cho bị cáo T mượn xe vào ngày 05/01/2022 nhưng không biết bị cáo T dùng xe mô tô vào việc vận chuyển hàng cấm. Ngày 04/5/2022, Viện KSND huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 93P1- 562.40 cho chủ sở hữu là anh Phan Ngọc Toàn. Do đó, Hội đồng xét xử không đưa anh Phan Ngọc Toàn vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng T giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 03/11/2020, Đỗ Thị T đã bị Ủy ban nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 40.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán Thuốc lá điếu nhập lậu”, chưa đóng phạt và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng ngày 05/01/2022, Đỗ Thị T tiếp tục có hành vi vận chuyển 500 bao Thuốc lá điếu nhập lậu tại ấp Tận Phú 1, xã Tận Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước thì bị kiểm tra, phát hiện và T giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về quản lý Thuốc lá là khách thể được pháp luật bảo vệ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người hoàn toàn bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo nhận thức được Thuốc lá là một trong những mặt hàng được nhà nước quản lý, tác hại của Thuốc lá đối với sức khỏe con người là rất lớn, nhất là những mặt hàng Thuốc lá không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng nhập lậu. Bị cáo biết rõ hành vi vận chuyển Thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật. Số lượng Thuốc lá nhập lậu mà bị cáo mua bán dưới 1.500 bao nhưng bản thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này chưa chấp hành nộp phạt nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Do đó hành vi cấu thành tội phạm và là tình tiết định khung hình phạt tại điểm e, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc vận chuyển Thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị. Song vì động cơ tư lợi cá nhân, mục đích để có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình phạm tội. Xét cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tù có thời hạn, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 24/01/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 24/7/2020, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tiền sự: Ngày 03/11/2020, bị Ủy ban nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 40.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán Thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 500 bao đến dưới 1000 bao”, chưa chấp hành đóng phạt.

- Nhân thân: Ngày 28/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, hiện đang thi hành án.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vận chuyển hành cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần hình phạt đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 500 (năm trăm) bao Thuốc lá điếu hiệu HERO, JET (400 bao Thuốc lá điếu hiệu HERO, 100 bao Thuốc lá điếu hiệu JET, loại 10 bao/cây, 20 điếu/01 bao) là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch T tiêu hủy.

Đối với 01 (một) bao tải màu xám và 01 (một) thùng giấy carton là vật không có giá trị nên cần tuyên tịch T tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 93P1- 562.40 là tài sản hợp pháp của anh Phan Ngọc Toàn. Ngày 04/5/2022, Viện KSND huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số 93P1- 562.40 cho chủ sở hữu là ông Phan Ngọc Toàn. Xét việc xử lý vật chứng nói trên đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý lại.

Các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ tên N theo lời khai của bị can T là người đã thuê T vận chuyển Thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch, tách ra xác minh, xử lý sau nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Phan Ngọc T là người cho Đỗ Thị T mượn xe mô tô biển số 93P1-562.40 nhưng Toàn không biết đến hành vi phạm tội của T nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị T phải chịu theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm e, khoản 1, Điều 191; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; các điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm” và 01 năm tù về tội “Mua bán hàng cấm” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2021/HS-ST ngày 18/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2022 (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2021 đến ngày 11/11/2021).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 500 (năm trăm) bao Thuốc lá điếu hiệu HERO, JET (400 bao Thuốc lá điếu hiệu HERO, 100 bao thuốc lá điếu hiệu JET, loại 10 bao/cây, 20 điếu/01 bao); 01 (một) bao tải màu xám và 01 (một) thùng giấy carton.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Đỗ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ