vanban.org

Bản án 51/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

T bố: bị cáo Phạm Gia K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Gia K 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/5/2022. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000đ (mƣời lăm triệu đồng) đối với bị cáo Phạm Gia K nộp vào ngân sách nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Gia K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? T bố: bị cáo Phạm Gia K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HS-ST
Ngày 22-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Lê Thanh Nam

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Đình Mạnh và ông Phạm Viết Trung

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị May - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Phƣơng Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Gia K, sinh năm 1981; nơi sinh: thị trấn K1, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: Khu A, thị trấn K1, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Gia Q (đã chết) và bà Phạm Thị L1; có vợ là Nguyễn Thị H1 và 02 con;

Tiền án:

- Bản án số 03 ngày 04/02/2010, Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt 4.192.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2010.

- Bản án số 08 ngày 27/3/2012, Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2019.

- Bản án số 45 ngày 04/11/2019, Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 25 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Bản án số 68 ngày 29/11/2019, Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án số 45 của TAND huyện T1, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 32 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/02/2022.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

- Quyết định số 57 ngày 10/9/2009, Công an huyện B1 quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 28/9/2009.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2022 đến ngày 01/6/2022 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Tiến H, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu Q1, xã V1, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng;

2. Anh Lƣơng Văn L, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn N1, xã N2, thị xã M1, tỉnh Hƣng Yên;

- Người chứng kiến:

1. Anh Vũ Hữu T, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn B2, xã T2, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng;

2. Ông Nguyễn Xuân M, sinh năm 1955; địa chỉ: Khu A, thị trấn K1, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng.

(Những ngƣời làm chứng và ngƣời chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 13 giờ ngày ngày 25/5/2022, Phạm Gia K đi bộ từ nhà ở khu A, thị trấn K1, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng ra Quốc lộ 5A bắt xe khách đến khu vực đƣờng tàu thuộc thành phố Hải Phòng để mua ma túy về bán lại cho các con nghiện kiếm lời. Tại đây, K gặp và mua của một ngƣời đàn ông không quen biết một gói ma túy loại Heroine với số tiền 1.500.000 đồng cất giấu trong ngƣời rồi bắt xe khách quay về nhà. K dùng dao tem chia nhỏ gói ma túy thành 8 gói nhỏ, sau đó cất 01 gói vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long để dƣới nền nhà cạnh đầu giƣờng ngủ của mình, 7 gói ma túy còn lại K đựng vào túi nilon kích thƣớc (8 x 12)cm cất giấu trong ngƣời để bán kiếm lời.

Khoảng 09 giờ ngày 26/5/2022, trong lúc K đang ở nhà thì Vũ Tiến H và Lƣơng Văn L đến. H và L hỏi mua ma túy, K đồng ý, K lấy 2 trong số 7 gói ma túy cất giấu trong ngƣời bán cho H và L mỗi ngƣời một gói với giá 200.000 đồng/gói, còn lại 5 gói K cất giấu trong túi quần phía trƣớc bên phải. Sau khi mua đƣợc ma túy, H và L đến khu vực cây đa ở cánh đồng thuộc thôn V2, xã V3, huyện B1 sử dụng. L bỏ toàn bộ gói ma túy vừa mua ra sử dụng hết, H sử dụng 1 phần, còn 1 phần để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long cất giấu ở túi áo ngực bên phải của mình để sử dụng dần.

Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H và L tiếp tục quay lại nhà K. H tiếp tục hỏi mua ma túy, K đồng ý lấy 01 gói trong số 5 gói còn lại đƣa cho H, H trả K 200.000 đồng. Ngay lúc đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện phối hợp với Công an thị trấn K1 phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía trƣớc bên phải của K 01 túi nilon có kích thƣớc (8 x 12)cm bên trong có 4 gói đều có kích thƣớc (1 x 2)cm bọc ngoài bằng nilon màu đen, bên trong là gói giấy mầu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, K khai nhận là ma túy loại Heroine cất giấu để bán kiếm lời; thu trong túi quần phía trƣớc bên trái của K số tiền 1.730.000 đồng trong đó có 600.000 đồng là tiền K bán ma túy cho H và L. Thu giữ trong túi áo ngực bên phải của H 01 gói có kích thƣớc (1 x 2)cm bọc ngoài bằng nilon màu đen, bên trong là gói giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai là ma túy vừa mua của K; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long chứa 01 gói bọc ngoài bằng giấy kích thƣớc (0,5 x 1)cm bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai là ma túy đã mua của K trƣớc đó, H đã sử dụng một phần, còn lại cất giấu để sử dụng; 01 bật lửa ga bằng nhựa màu trắng. Thu giữ của L 01 bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ (Bút lục số 38 đến 40).

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Gia K, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ tại nền nhà cạnh đầu giƣờng ngủ của K 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói bọc ngoài bằng giấy màu trắng kích thƣớc (1 x 1,5)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, K khai nhận là ma túy loại Heroine cất giấu để bán kiếm lời. Thu tại vị trí phía bên dƣới đệm đầu giƣờng ngủ của K 07 mảnh giấy màu trắng có kích thƣớc (3 x 4)cm, 03 dao tem, K khai nhận là dụng cụ để chia ma túy (Bút lục số 49, 50).

Tiến hành kiểm tra tại khu vực cây đa thuộc cánh đồng thôn V2, xã V3, huyện B1 theo sự chỉ dẫn của H và L, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 01 mảnh giấy màu trắng có kích thƣớc (3 x 4)cm, một mặt có chất bột màu trắng bám dính, L trình bày là mảnh giấy đựng ma túy L mua của K; 02 mảnh nilon màu đen có kích thƣớc (3 x 4)cm, H và L khai nhận là mảnh nilon bọc ngoài 2 gói ma túy đã mua của K; 02 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng có kích thƣớc (3 x 4)cm, một mặt có muội màu đen và một mặt có chất bột màu trắng bám dính, H và L khai là dụng cụ sử dụng ma túy (Bút lục số 52).

Kết luận giám định số 376/KL-KTHS ngày 28/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu trắng thu của Vũ Tiến H có khối L 0,030g là ma túy loại Heroine; Chất bột dạng cục trong gói giấy màu trắng đựng trong vỏ bao thuốc lá thu giữ của Vũ Tiến H có khối L là 0,013g là ma túy loại Heroine. Chất bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy màu trắng thu giữ của Phạm Gia K trong quá trình bắt quả tang có tổng khối L là 0,428g là ma túy, loại Heroine; Chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu trắng đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long thu tại nền nhà của Phạm Gia K có khối L là 0,059g là ma túy, loại Heroine. Chất bột màu trắng bám dính bên trên 3 mảnh giấy thu đƣợc tại khu vực gốc đa cánh đồng thôn V2, xã V3 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, L mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định đƣợc khối L.

Hoàn lại đối tƣợng giám định gồm 0,388g ma túy loại Heroine, 07 mảnh giấy màu trắng, 05 mảnh nilon màu đen, 06 phong bì niêm phong, 01 mảnh giấy, 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng.

Heroine - STT 09, Danh mục I, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 01-7-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Phạm Gia K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên toà:

- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm đƣợc về đoàn tụ với gia đình.

- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b, c, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: đề nghị T bố bị cáo Phạm Gia K phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Đề nghị xử phạt: Bị cáo từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/5/2022. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo với số tiền phạt từ 15 đến 20 triệu đồng. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 0,388g ma túy loại Heroine; 8 mảnh giấy, 05 mảnh nilon màu đen, 06 phong bì, 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng; 02 mảnh nilon màu đen; 07 mảnh giấy màu trắng; 03 dao tem; 02 bật lửa gas; 02 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi nilon. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc số tiền 600.000đ của bị cáo Phạm Gia K.Trả lại bị cáo Phạm Gia K số tiền 1.130.000đ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng, ngƣời chứng kiến, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản khám xét, thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 26/5/2022 tại Khu A, thị trấn K1, huyện B1, tỉnh Hải Dƣơng. Phạm Gia K có hành vi bán trái phép cho Vũ Tiến H và Lƣơng Văn L mỗi ngƣời 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng/gói, L đã sử dụng hết, H sử dụng một phần, còn lại 0,013g Heroine cất giấu trong ngƣời để sử dụng.

Hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày, K bán trái phép 0,030g Heroine cho Vũ Tiến H với giá 200.000 đồng, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện phối hợp với Công an thị trấn Kẻ Sặt phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tiến hành kiểm tra, khám xét, thu giữ của Phạm Gia K 0,487g Heroine, mục đích để bán kiếm lời.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác nhƣng vì mục đích kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ma túy mà bị cáo mua bán là Heroine có khối L dƣới 5 gam; bị cáo thực hiện hành vi bán ma túy 2 lần mà mỗi lần đều đủ yếu tố cầu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, trong đó có 1 lần bị cáo bán ma túy cho 2 ngƣời; lần phạm tội này bị cáo thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm; do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo các điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 4 lần bị kết án, 1 lần bị xử phạt hành chính; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy với mục đích bạn lại kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định đƣợc là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Vũ Tiến H có hành vi tàng trữ trái phép 0,043g ma túy loại Heroine nhƣng chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; đối với Vũ Tiến H và Lƣơng Văn L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 23/6/2022, Công an huyện Bình Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.730.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 600.000đ là tiền do bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc; số tiền còn lại 1.130.000đ là tiền của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 0,388g ma túy loại Heroine là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 8 mảnh giấy, 05 mảnh nilon màu đen, 06 phong bì, 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng; 02 mảnh nilon màu đen; 07 mảnh giấy màu trắng; 03 dao tem; 02 bật lửa gas; 02 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi nilon là vật chứng không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy;

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, c, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. T bố: bị cáo Phạm Gia K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Gia K 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/5/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000đ (mƣời lăm triệu đồng) đối với bị cáo Phạm Gia K nộp vào ngân sách nhà nƣớc.

4. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 0,388g ma túy loại Heroine; 8 mảnh giấy, 05 mảnh nilon màu đen, 06 phong bì, 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng; 02 mảnh nilon màu đen; 07 mảnh giấy màu trắng; 03 dao tem; 02 bật lửa gas; 02 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi nilon.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) của bị cáo Phạm Gia K.

Trả lại bị cáo Phạm Gia K số tiền 1.130.000đ (một triệu, một trăm, ba mƣơi nghìn đồng).

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 18/7/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).

5. Về án phí: Bị cáo Phạm Gia K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày T án sơ thẩm./.

Cỡ chữ