- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Huy Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/. Xử : Tuyên bố bị cáo Chu Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ- TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51 /2022/HS-ST Ngày: 30/06/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn H và Ông Nguyễn Đại Huy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyên Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 06 năm 2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 06 năm 2022, đối với bị cáo:
Chu Huy Th, sinh năm: 1986; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn ĐH, xã PS, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 07/12 , Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Chu Huy S (đã chết), Con bà: Trần Thị Ng, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Trung Th2 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2012. Tiền án: 02 tiền án: Bản án số 368/2012/HSST ngày 13/11/2012 của TAND huyện Từ Liêm - Hà Nội xử phạt 12 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 10/8/2013; Bản án số 90/2014/HSST ngày 23/5/2014 của TAND quận Thanh Xuân xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm p Khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999, ra trại ngày 09/5/2020. Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 54/2008/HSPT ngày 19/5/2008 của TAND tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 09/01/2009 , Th đã nộp án phí. Về dân sự: Th phải bồi thường số tiền là 10.423.000 đồng cho 07 bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuy nhiên đến nay không có yêu cầu và đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án. Bị cáo bị hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ theo Quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án số 22/2022/QĐTG ngày 25/05/2022, tại bản án số 14/2022/HSST ngày 25/5/2022 xử phạt bị cáo 42 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã có hiệu lực pháp luật . (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) * Người bị hại:
- Ông Vũ Văn Th1, sinh năm 1963 ( vắng mặt)
- Anh Phùng Văn D, sinh năm 1977 ( vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn CM, xã TH, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Ng, sinh năm 1940 ( có mặt) Địa chỉ: Thôn ĐH, xã PS, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội -Anh Phùng Văn D1, sinh năm 1989 ( vắng mặt) Địa chỉ: Thôn ĐB, xã ĐT, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 26/8/2021, Phùng Văn H (Sn: 1983, trú tại: thôn ĐH
- PS - Ba Vì) mang theo 01 kìm cộng lực, 01 đèn pin đeo đầu đi bộ đến nhà Chu Huy Th (Sn: 1986, trú tại: thôn ĐH - PS - Ba Vì) rủ Th cùng đi trộm cắp tài sản. Th đồng ý rồi lấy xe mô tô không có biển kiểm soát, chở H đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường dẫn lên cầu Văn Lang thuộc địa phận thôn Chu Mật - Thái Hòa thì Th dừng xe lại cùng H đi bộ vào trong thôn Chu Mật tìm kiếm tài sản thì phát hiện trang trại của gia đình anh Phùng Văn D (Sn: 1977, trú tại: thôn Chu Mật - Thái Hòa - Ba Vì) không có người trông giữ. Th, H thấy trong trang trại nhà anh D có một nhà kho rộng khoảng 05m2, được xây bằng gạch xi măng, lợp mái bờ lô xi măng, không khóa cửa. H soi đèn pin qua lỗ hổng trên cánh cửa sắt của nhà kho thì phát hiện bên trong nhà kho có 02 cuộn dây thép gai, 01 chiếc thuổng bằng kim loại, 01 cuộn lưới B40. H kiểm tra thì thấy cửa sắt của nhà kho là loại cửa mở trượt sang hai bên, không khoá nên H đã dùng tay đầy ngang mở được cửa. H đi vào lấy cuộn lưới B40 mang ra rồi quay lại cùng Th lấy trộm 02 cuộn dây thép gai mang ra chỗ dựng xe. H tiếp tục quay lại, trượt hết cánh cửa sắt của nhà kho sang một bên để tháo rời cánh cửa ra, đặt chiếc thuổng lên trên rồi cùng Th bê ra chỗ dựng xe. Sau đó, Th điều khiển xe chở H ngồi sau cùng những tài sản trộm cắp được di chuyển về hướng xã Đồng Thái theo đường mương Thủy lợi TH2 để tìm kiếm chỗ tiêu thụ. Khi Th điều khiển xe đi đến cánh đồng xóm Thượng - thôn Tăng Cấu - Đồng Thái thì nhìn thấy một đống đất chặn ngang đường nên lái xe lách qua đống đất nhưng bị ngã và lao xe xuống bờ ruộng. Lúc này, lực lượng Công an xã Thái Hòa tuần tra, kiểm soát phát hiện Th và H có biểu hiện nghi vấn nên đã đuổi theo kiểm tra. Thấy vậy, Th và H bỏ chạy thoát để lại xe mô tô và toàn bộ tài sản đã trộm cắp. Công an xã Thái Hòa đã thu giữ chiếc xe mô tô trên và toàn bộ tài sản trộm cắp của H và Th và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì Chu Huy Th và Phùng Văn H đã trình bày toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nhà anh Phùng Văn D ngày 26/8/20221. Th và H còn khai nhận ngoài hành vi trộm cắp tài sản trên còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác cụ thể như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 18/8/2021, Th dùng xe mô tô chở H mang theo 01 kìm cộng lực, 01 đèn pin đeo đầu, 01 búa sắt để đi trộm tài sản. Khi đi đến thôn Chu Mật - Thái Hòa - Ba Vì thì H và Th phát hiện trang trại của gia đình nhà ông Vũ Văn Th1 (Sn: 1963, trú tại: thôn Chu Mật - Thái Hòa - Ba Vì) không có người trông giữ. Th dựng xe cách trang trại nhà ông Th1 khoảng 20m rồi cùng H đi bộ đến bờ tường bao xung quanh trang trại, trèo qua tường bao vào bên trong rồi đi đến nhà kho. H soi đèn pin qua lỗ hổng trên cánh cửa của nhà kho thì phát hiện bên trong có 03 cuộn lưới B40. Hoàn dùng búa đinh phá khóa cửa ra rồi cùng Th đi vào lấy trộm 3 cuộn lưới B40 mang ra cổng của trang trại. H quay lại phát hiện và trộm cắp 01 chiếc xe rùa ở cạnh cổng ra vào. H dùng kìm cộng lực, cắt phá khóa cổng rồi cùng Th mang toàn bộ số tài sản trộm cắp buộc lên sau yên xe. Sau đó, Th điều khiển xe chở H đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn của anh Phùng Văn D1 (SN: 1989, trú tại: thôn Đông Bảng - Đồng Thái - Ba Vì) ở khu vực ngã ba xã Đồng Thái - Ba Vì để bán số tài sản trộm cắp được. Tại đây, Th nói dối với anh D1 số tài sản trên là của gia đình dùng còn thừa, muốn bán lại nên anh D1 đồng ý và mua với giá 260.000 đồng. Số tiền trên Chu Huy Th và Phùng Văn H đã cùng nhau tiêu sài cá nhân hết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 121 ngày 20/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Ba Vì, kết luận:
- 01 (một) cánh cửa bằng kim loại, kích thước (2,07x1)m, nặng 34kg (đã qua sử dụng): 500.000 đồng.
- 01 (một) chiếc thuổng bằng kim loại, dài 72cm, đường kính 4,5cm, nặng 1,6kg (đã qua sử dụng): 100.000 đồng.
- 02 (hai) cuộn dây thép gai nặng 44kg: 968.000 đồng.
- Cuộn lưới B40 có kích thước và trọng lượng là: (1,4x1,8)m, nặng 05kg: 110.000 đồng.
Là tài sản Chu Huy Th và Phùng Văn H trộm cắp được ngày 26/8/2021 tại trang trại nhà anh Phùng Văn D, tổng trị giá: 1.656.000đ (một triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- 01 (một) xe rùa bằng kim loại nặng 07kg: 150.000 đồng.
- Cuộn lưới B40 có kích thước và trọng lượng là: (2,7x1,8)m, nặng 10kg: 220.000 đồng.
- Cuộn lưới B40 có kích thước và trọng lượng là: (3,3x1,8)m, nặng 12kg: 264.000 đồng.
- Cuộn lưới B40 có kích thước và trọng lượng là: (1,2x1,2)m, nặng 04kg: 88.000 đồng.
Là tài sản Chu Huy Th và Phùng Văn H trộm cắp được ngày 18/8/2021 tại trang trại nhà ông Vũ Văn Th1, tổng trị giá 744.000đ ( bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Kết quả tra cứu Trích lục tiền án, tiền sự xác định:
- Phùng Văn H: không có tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, không có tiền án về các tội thuộc chương xâm phạm sở hữu. Do vậy, hành vi trộm cắp tài sản của H ngày 18/8/2021 và 26/8/2021 không cấu thành tội phạm. Ngày 08/11/2021, Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi Trộm cắp tài sản.
Đối với anh Phùng Văn D1: do không biết tài sản Th mang đến bán là tài sản do phạm tội mà có nên CQĐT không đề cập xử lý trong vụ án.
* Về vật chứng:
- Số công cụ Th và H sử dụng để trộm cắp tài sản gồm: 01 kìm cộng lực, 01 đèn pin đeo đầu, 01 chiếc búa đinh: ngày 26/8/2021, sau khi bị phát hiện và bỏ chạy, Phùng Văn H đã làm rơi nhưng không biết rơi khi nào, ở đâu. Do vậy, CQĐT không có căn cứ để truy tìm vật chứng.
- Chiếc xe mô tô không gắn BKS mà Chu Huy Th sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT đã tiến hành tra cứu, xác minh chủ sở hữu xác định: Chiếc xe mô tô trên có BKS: 19S1-2009, số khung: WCH3ND71B02605, số máy: S152FMHS1002605 là của anh Nguyễn Tiến Mạnh, trú tại: thôn 4 - Yên Kiện - Đoan Hùng - Phú Thọ. Sau khi anh Mạnh chết, em gái anh Mạnh là chị Nguyễn Thị Thủy (SN: 1988, trú tại: thôn ĐH - PS
- Ba Vì) đã lấy chiếc xe này sử dụng rồi bán lại cho bà Trần Thị Ng (SN: 1940, trú tại: thôn ĐH - PS - Ba Vì) là mẹ của Chu Huy Th. Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu vật chứng đối với chiếc xe mô tô trên xác định không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 18/8/2021 và 26/8/2021, bà Ng không biết Chu Huy Th sử dụng chiếc xe mô tô trên di trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trao trả chiếc xe mô tô trên cho bà Ng.
- Đối với toàn bộ số tài sản mà Chu Huy Th và Phùng Văn H đã trộm cắp được của gia đình ông Vũ Văn Th1 và anh Phùng Văn D. Cơ quan CSĐT đã tiến hành trao trả lại cho ông Th1 và anh D.
Về dân sự:
- Bị hại ông Th1 và anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
- Anh Phùng Văn D1 sau khi giao nộp tài sản đã mua của Chu Huy Th, cũng không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
* Bản cáo trạng số: 40/2022/CT-VKSBV ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Chu Huy Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát Ba Vì đã nêu. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà giữ quyền công tố phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
*Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 56 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Chu Huy Th từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 42 tháng tù theo bản án số 14/2022/HSST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là từ 54 tháng tù đến 57 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về dân sự: Bị hại ông Th1 và anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Anh Phùng Văn D1 sau khi giao nộp tài sản đã mua của Chu Huy Th, cũng không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không đề nghị xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Số công cụ Th và H sử dụng để trộm cắp tài sản gồm: 01 kìm cộng lực, 01 đèn pin đeo đầu, 01 chiếc búa đinh: ngày 26/8/2021, sau khi bị phát hiện và bỏ chạy, Phùng Văn H đã làm rơi nhưng không biết rơi khi nào, ở đâu, CQĐT không có căn cứ để truy tìm vật chứng nên không xem xét. Chiếc xe mô tô không gắn BKS mà Chu Huy Th sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, là tài sản của bà Ng, bà Ng không biết Th làm phương tiện đi trộm cắp, chiếc xe cũng không nằm trong danh mục vật chứng của vụ án nào, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trao trả chiếc xe mô tô trên cho bà Ng là đúng quy định; Đối với toàn bộ số tài sản mà Chu Huy Th và Phùng Văn H đã trộm cắp được của gia đình ông Vũ Văn Th1 và anh Phùng Văn D, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trao trả lại cho ông Th1 và anh D nên không đề nghị xem xét xử lý. Buộc Chu Huy Th phải truy nộp số tiền 260.000đ tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định: Chu Huy Th chưa được xóa án tích về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 368/2012/HSST ngày 13/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm – Tp Hà Nội. Trong các ngày 18/8/2021 và ngày 26/8/2021, Chu Huy Th đã có hành vi lén lút lợi dụng sự sơ hở của gia đình ông Vũ Văn Th1 và anh Phùng Văn D không có ai trông coi, bảo quản đã trộm cắp số tài sản cụ thể: 01 xe rùa, 03 cuộn lưới B40 được định giá là 744.000đ của nhà ông Th1; 01 cánh cửa kim loại, 01 chiếc thuổng, 02 cuộn dây thép gai, 01 cuộn lưới B40 được định giá là 1.656.000đ của nhà anh D. Tổng trị giá tài sản Th trộm cắp của được của nhà ông Th1 và nhà anh D là 2.400.000đ ( Theo kết luận định giá tài sản số 121 ngày 20/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản ). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Chu Huy Th theo nội dung bản cáo trạng là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Phùng Văn H là người tham gia trộm cắp tài sản cùng bị cáo Chu Huy Th các ngày 18/8/2021 và ngày 26/8/2021. Tuy nhiên kết quả tra cứu trích lục tiền án tiền sự xác định Phùng Văn H không có tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, không có tiền án về các tội thuộc chương xâm phạm sở hữu. Do vậy, hành vi trộm cắp tài sản của H ngày 18/8/2021 và 26/8/2021 không cấu thành tội phạm. Ngày 08/11/2021, Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi Trộm cắp tài sản là đúng quy định của pháp luật.
Đối với anh Phùng Văn D1: Do không biết tài sản Th mang đến bán là tài sản do phạm tội mà có nên CQĐT không đề cập xử lý trong vụ án là đúng quy định.
Xét tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Huy Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Th.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án: Bản án số 368/2012/HSST ngày 13/11/2012 của TAND huyện Từ Liêm - Hà Nội xử phạt 12 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 10/8/2013; Tại bản án số 90/2014/HSST ngày 23/5/2014 của TAND quận Thanh Xuân xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm p Khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999, ra trại ngày 09/5/2020.
Bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 54/2008/HSPT ngày 19/5/2008 của TAND tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, Th đã nộp án phí. Về dân sự: Th phải bồi thường số tiền là 10.423.000 đồng cho 07 bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án; Tại bản án số 14/2022/HSST ngày 25/5/2022 xử phạt bị cáo 42 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, đã có hiệu lực pháp luật.
Về hình phạt: Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Chu Huy Th là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, bị cáo đã nhiều lần bị kết án và chấp hành án về các hành vi “Trộm cắp tài sản”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà vẫn tiếp tục dấn sâu vào con đường phạm tội do đó cần phải xử lý nghiêm minh, HĐXX xét thấy cần phải áp dụng điều 38 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 để quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe bị cáo nói riêng và có tác dụng phòng ngừa chung . Tại bản án số 14/2022/HSST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông – Tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Th 42 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” đã có hiệu lực Pháp luật nên HĐXX căn cứ Điều 55 và Điều 56 BLHS quyết định tổng hợp hình phạt của bản án xét xử lần này với hình phạt 42 tháng tù của bản án trên là đúng quy định.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Chu Huy Th không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng ngoài những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu nên HĐXX xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về dân sự: Bị hại ông Th1 và anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Anh Phùng Văn D1 sau khi giao nộp tài sản đã mua của Chu Huy Th, cũng không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[6 ] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số công cụ Th và H sử dụng để trộm cắp tài sản gồm: 01 kìm cộng lực, 01 đèn pin đeo đầu, 01 chiếc búa đinh: ngày 26/8/2021, sau khi bị phát hiện và bỏ chạy, Phùng Văn H đã làm rơi nhưng không biết rơi khi nào, ở đâu. Do vậy, CQĐT không có căn cứ để truy tìm vật chứng nên HĐXX không xem xét.
- Đối với số tiền 260.000đ là tiền bán tài sản trộm cắp được cho anh D1, bị cáo Th và H đã tiêu sài hết, căn cứ Điều 47 BLHS buộc bị cáo Th phải truy nộp số tiền 260.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung Công quỹ Nhà nước là đúng quy định.
- Đối với chiếc xe mô tô không gắn BKS mà Chu Huy Th sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT đã tiến hành tra cứu, xác minh chủ sở hữu xác định: Chiếc xe mô tô trên có BKS: 19S1-2009, số khung: WCH3ND71B02605, số máy: S152FMHS1002605 là của anh Nguyễn Tiến Mạnh, trú tại: thôn 4 - Yên Kiện - Đoan Hùng - Phú Thọ. Sau khi anh Mạnh chết, em gái anh Mạnh là chị Nguyễn Thị Thủy (SN: 1988, trú tại: thôn ĐH - PS
- Ba Vì) đã lấy chiếc xe này sử dụng rồi bán lại cho bà Trần Thị Ng (SN: 1940, trú tại: thôn ĐH - PS - Ba Vì) là mẹ của Chu Huy Th. Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu vật chứng đối với chiếc xe mô tô trên xác định không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 18/8/2021 và 26/8/2021, bà Ng không biết Chu Huy Th sử dụng chiếc xe mô tô trên di trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trao trả chiếc xe mô tô trên cho bà Ng là đúng quy định.
- Đối với toàn bộ số tài sản mà Chu Huy Th và Phùng Văn H đã trộm cắp được của gia đình ông Vũ Văn Th1 và anh Phùng Văn D, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trao trả lại cho ông Th1 và anh D, nên HĐXX không xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Xử : Tuyên bố bị cáo Chu Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Chu Huy Th 15 ( mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 42 ( bốn mươi hai) tháng tù theo bản án số 14/2022/HSST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 57 ( năm mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/01/2022 theo bản án số 14/2022/HSST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ.
3/ Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
4/ Biện pháp tư pháp: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 BLHS.
Buộc bị cáo Chu Huy Th phải truy nộp số tiền 260.000đ ( Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước.
5/ Án phí : Áp dụng các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;các Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Bị cáo Chu Huy Th phải nộp : 200.000 ( Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6/Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về những phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hànhán theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật Thi hànhán dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TANDTP. Hà Nội; - VKSND huyện Ba Vì; - Công an huyện Ba Vì; - THADS Ba Vì; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Thị Phương Lan |