- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thành Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành Q; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HS-PT Ngày 06-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần M Phương
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hữu Trường
Ông Lê Anh Sơn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố H Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2022/HS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện CH, thành phố H Phòng.
Bị cáo kháng cáo:
Đỗ Thành Q, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố Lục Độ, thị trấn CH, huyện CH, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân T (đã chết) và bà Tô Thị Đ (còn sống); chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án, nhân thân: Án số 17/HSST ngày 31/01/2002 của Toà án nhân dân thành phố H Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (đã xoá); bị bắt tạm giam ngày 14 tháng 9 năm 2021; có mặt;
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thành Q: Ông Phạm Ngọc H, bà Trịnh Thị D – đều là Luật sư Công ty Luật Atlantic Việt Nam thuộc Đoàn Luật sư thành phố H Phòng; đều có mặt tại phiên toà; ông H vắng mặt khi tuyên án;
Bị hại không kháng cáo: Anh Đỗ Trọng M, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố Tiến Lộc, thị trấn CH, huyện CH, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4 năm 2020, bị hại Đỗ Trọng M có vay của Đỗ Thành Q số tiền 20.000.000 đồng, trả lãi 4.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Bị hại đã trả cho Q một phần tiền gốc và lãi, còn nợ lại bị cáo 12.000.000 đồng; việc các bên cho nhau vay tiền và trả nợ đều không có văn bản. Do bị cáo đòi tiền nên khoảng 20h50’ ngày 11/7/2021, bị hại đến khu vực trước cửa nhà anh Bùi Anh Tuân; địa chỉ: Tổ dân phố Tiến Lộc, thị trấn CH, huyện CH gặp bị cáo để trả nợ tiền theo hẹn từ trước. Bị hại nói với bị cáo xin trả trước số tiền 3.000.000 đồng và nợ lại số tiền 9.000.000 đồng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Bị cáo không đồng ý và chửi mắng bị hại. Thấy vậy, bà Nguyễn Thị Tứ đến can ngăn nhưng bị cáo đuổi đi. Trong tư thế đối diện, bị cáo dùng tay trái túm tóc đẩy ngửa mặt bị hại lên, dùng tay pH đấm hai nhát trúng vào vùng mặt, mũi làm bị hại bị thương tích, chảy máu mũi và mẻ răng. Sau đó được mọi người tiếp tục can ngăn nên bị cáo dừng lại, còn bị hại chạy vào nhà ông Hà Quang Đến ở gần đó. Lúc này, người đàn ông tên Hưng, bạn của bị cáo chạy theo bị hại dùng tay pH quàng cổ bị hại, nhưng bị cáo nói: “chuyện của tao, tự tao giải Q, không đứa nào được làm gì”. Sau đó, Hưng bỏ bị hại ra, lên xe máy cùng bị cáo bỏ đi. Bị hại được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đôn Lương, sau đó chuyển điều trị tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế H Phòng từ ngày 11/7/2021 đến ngày 19/7/2021.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 343/2021/TGT ngày 20/8/2021 của Trung tâm pháp y H Phòng kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại Đỗ Trọng M: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết xây xước da sống mũi trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương chính mũi và vách ngăn mũi gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do mẻ răng 26 gây nên là 1,25%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên là 12%.
Vết xây xước da sống mũi trái có đặc điểm do vật có cạnh cứng tác động trực tiếp theo hướng chủ yếu từ trước ra sau và chếch từ trái sang pH gây nên. Gãy xương chính mũi, vách ngăn mũi và mẻ răng 26 có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CH, Đỗ Thành Q khai nhận: Do quen biết và là người sinh sống cùng thị trấn CH nên bị cáo đã cho bị hại vay số tiền 20.000.000 đồng. Ngày 11/7/2021, bị hại đến tìm bị cáo để trả 3.000.000 đồng, xin nợ lại 9.000.000 đồng, bị hại nói với bị cáo: “Em chỉ có 3.000.000 đồng, anh thích làm gì em thì làm”. Do bị hại trả nợ không đúng hẹn, lại có lời lẽ thách thức và trước đó đã sử dụng rượu bia nên bị cáo bức xúc dùng tay đấm hai nhát vào vùng mặt của bị hại gây thương tích nêu trên. Bị hại trình bày, ngày 11/7/2021, bị hại đến tìm bị cáo mục đích để trả nợ như đã hẹn. Bị hại nói hoàn cảnh khó khăn nên hiện tại chỉ có 3.000.000 đồng trả trước và xin bị cáo cho nợ lại số tiền 9.000.000 đồng. Nhưng bị cáo không đồng ý, to tiếng chửi bị hại rồi dùng tay trái túm tóc, tay pH đấm hai nhát vào mặt gây thương tích.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Tứ trình bày: Khi bà Tứ đang bán nước thì thấy bị hại đến trước cửa nhà anh Tuân gọi bị cáo ra nói chuyện. Bà Tứ nghe thấy bị cáo to tiếng chửi bị hại về chuyện tiền bạc, còn bị hại đứng yên không chửi lại bị cáo. Bà Tứ chạy sang can ngăn nhưng bị cáo nói không pH việc của bà nên bà Tứ đi về.
Tại Bản án sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 09/3/2022, Tòa án nhân dân huyện CH, thành phố H Phòng đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Thành Q 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam – ngày 14/9/2021.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/3/2022, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo trình bày: Khi bị hại đến gặp bị cáo thì chỉ nói trả bị cáo 3.000.000 đồng, không pH 8.000.000 đồng như đã hứa. Bị hại có nói với bị cáo do điều kiện khó khăn, chưa có khả năng trả hết, chỉ có 3.000.000 đồng nên bị cáo muốn làm gì thì làm. Do có uống rượu lại nghe bị hại nói như vậy, bị cáo bức xúc nên đã đánh bị hại như đã khai tại Toà án cấp sơ thẩm. Do vậy, bị cáo và người bào chữa của bị cáo thấy rằng hành vi của bị cáo đánh bị không có tính chất côn đồ; đề nghị được giám định lại thương tích của bị hại vì tại Bệnh viện đa khoa Đôn Lương - CH không ghi tổn thương về răng của bị hại nhưng tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 343/2021/TgT lại có kết luận về thương tích ở răng và đề nghị làm rõ tiền sự của bị cáo.
* Quan điểm giải Q vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các đề nghị của bị cáo và người bào chữa đã được Toà án cấp sơ thẩm làm rõ, tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết gì mới, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành Q đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại các Điều 332, 333 và 334 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị giám định lại thương tích của bị hại và đề nghị không áp dụng tình tiết định khung “có tính chất côn đồ”của bị cáo Đỗ Thành Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và người bào chữa đề nghị chấp nhận đề nghị của bị cáo thực hiện giám định lại thương tích của bị hại M tại Viện pháp y Quân đội; không áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ đối với bị cáo và làm rõ tiền sự của bị cáo Q. Về đề nghị giám định lại thương tích của bị hại, bị cáo đã đề nghị từ cấp sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đã mời người Giám định và Điều tra viên đến phiên toà sơ thẩm để làm rõ. Xét thấy, tại Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa Đôn Lương - CH và bản Tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đa khoa Quốc tế H Phòng được lập cùng ngày 11/7/2021 (ngày xảy ra sự việc), thì tại bản Tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đa khoa Quốc tế H Phòng ghi: “...Khám răng: Vỡ men R26, sang chấn khớp thái D hàm pH do tai nạn sinh hoạt, cao răng, R48 lệch má, R38 lệch 90độ..”. Tại Công văn số 139/2021/CV ngày 08/10/2021 của Trung tâm pháp y H Phòng – Sở y tế H Phòng phúc đáp Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện CH: “Sau khi nghiên cứu toàn bộ nội dung công văn và hồ sơ giám định pháp y về thương tích số 343/2021/TgT của Trung tâm pháp y H Phòng đối với nạn nhân Đỗ Trọng M. Chúng tôi xin trả lời quý cơ quan như sau: Nếu đối tượng dùng tay đấm hai phát trực diện vào vùng mặt của nạn nhân Đỗ Trọng M thì hoàn toàn có khả năng gây nên được thương tích mẻ răng 26 cho nạn nhân”. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng đề nghị của bị cáo và người bào chữa về việc giám định lại đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, giải Q; việc giám định là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng và thương tích của bị hại nên không có căn cứ để chấp nhận đề nghị của bị cáo về việc giám định lại thương tích của bị hại.
Đối với đề nghị làm rõ tiền sự của bị cáo, Bản án sơ thẩm đã không xác định bị cáo có tiền sự nên không đặt vấn đề giải Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi đánh bị hại, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng; phù hợp với bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 343/2021/TgT ngày 20/8/2021 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20h50’ ngày 11/7/2021, khi bị hại gặp bị cáo để trả nợ 3.000.000 đồng trong tổng số tiền còn nợ 12.000.000 đồng, nhưng bị cáo không đồng ý, to tiếng với bị hại và dùng tay trái túm tóc đẩy ngửa mặt bị hại lên, dùng tay pH đấm hai nhát trúng vào vùng mặt gây thương tích, chảy máu mũi và mẻ răng 26, tổng thương tích cho bị hại là 12%. Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt từ việc bị hại nợ tiền bị cáo không trả đúng hẹn; mặc dù bị hại đã trình bày với bị cáo về điều kiện kinh tế hiện tại khó khăn nên không thể trả hết số tiền còn nợ; bà Tứ đã can ngăn nhưng bị cáo vẫn gây thương tích cho bị hại. Việc bị hại không trả tiền đúng hẹn, thì bị cáo có thể chọn nhiều cách xử sự khác để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho mình nhưng bị cáo lại không lựa chọn cách hành xử phù hợp. Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Thành Q đã phạm tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên hình phạt đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an chung; tính chất của vụ án là nghiêm trọng nên cần pH xử lý thỏa đáng, cần thiết pH cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xoá và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường trước thời điểm xét xử sơ thẩm cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng; bị hại có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong khi lượng hình đối với bị cáo. Về dân sự, bị hại không còn yêu cầu bồi thường nên không đặt vấn đề giải Q.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Q định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo về hình phạt và tội danh là đúng quy định của pháp luật nên giữ nguyên bản án sơ thẩm – điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về việc bị hại tố cáo bị cáo có hành vi cho vay lãi nặng, không có tài liệu, chứng cứ chứng M bị hại đã trả số tiền lãi cho bị cáo cụ thể như thế nào, bị cáo không thừa nhận nội dung này nên không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người nam giới tên Hưng, theo lời khai của bị hại, người này đã dùng tay tát vào vùng mang tai của bị hại, cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục, xác M làm rõ để xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các Q định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
Q ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành Q; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Đỗ Thành Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam – ngày 14/9/2021.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đỗ Thành Q pH nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các Q định khác của Bản án số 01/2022/HS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện CH, thành phố H Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND TPHP; - VKSND huyện CH; - PV06 Công an TPHP; - Cơ quan CSĐT huyện CH; - Cơ quan THAHS huyện CH; - TAND huyện CH; - Sở Tư pháp TP; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần M Phương |