- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Anh T - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phùng Anh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HS-PT Ngày 21-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đoan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Ánh
Ông Bùi Đức Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai – Thư ký T a án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lương Thu Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường xét xử số 2 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2022/HSPT ngày 12 tháng 5 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Phùng Anh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2022/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Phùng Anh T; tên gọi khác: không; sinh ngày 18/9/1994 tại thị xã P, tỉnh P; nơi ĐKHKTT: khu T, xã H, thị xã P, tỉnh P; nơi ở: khu 1, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phùng Ngọc T và bà Lê Thị V; vợ con: không; Tiền án, tiền sự: không; Hiện tại ngoại theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: các Luật sư Nguyễn Anh Dũng, Phạm Cường Long - Công ty Luật TNHH Tài Tâm Việt, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ: Tổ 5, cụm 1, đường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bị hại: anh Đỗ Văn K; sinh năm 1984; địa chỉ: khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Cháng Văn T và Lê Quang L nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cháng Văn T, Lê Quang L và các anh Lê Anh T (Lê T), Phạm Hằng H đều làm thuê cho Công ty Cổ phần xây dựng Thành Danh, còn Phùng Anh T (Phùng T) là bạn của L. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/8/2021, sau khi hết ca làm việc, anh Lê T đến kho gần cửa lò mức +21; -140 tại khai trường Công ty than Thống Nhất (tổ 1, khu Lán Ga, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả). Tại đây, anh Lê T tháo đèn l để xuống đất gần chỗ anh H đứng nên đã xảy ra mâu thuẫn với anh H và bị anh H dùng tay tát vào mặt. Anh Lê T sang phòng giao ca bên cạnh nói với T việc bị anh H đánh thì giữa T và anh H xảy ra cãi nhau. Anh H gọi điện thoại cho anh Đỗ Văn K (là anh vợ H) nhờ đến giải quyết mâu thuẫn. Còn anh Lê T đi về khu tập thể và gọi điện thoại cho L kể lại việc bị anh H đánh thì L nói sẽ đến yêu cầu anh H xin lỗi anh Lê T. Lúc này, L đang ngồi cùng Phùng T ở quán bia thuộc phường Cẩm Bình, thành phố Cẩm Phả nên đã nhờ Phùng T chở đi. Khi L và Phùng T đến thì gặp H và T đang ở trước cửa phòng giao ca, giữa L và H xảy ra cãi nhau. Một lúc sau, anh Lê T quay lại khu vực phòng giao ca thì anh K cũng đi xe mô tô đến. Tại đây, T lấy một đoạn gậy gỗ dài khoảng 01 mét ở trước cửa phòng giao ca vụt vào đầu anh K rồi vứt đoạn gậy gỗ xuống đất và cùng L dùng tay đấm vào đầu, mặt anh K làm anh K bị ngã. Sau đó, T và L tiếp tục dùng chân đá vào người anh K. Thấy vậy, anh H đánh lại nhóm T thì bị T và Phùng T dùng tay chân đấm, đá vào lưng và bụng, còn L vật anh H ngã xuống đất. Anh H nhặt đất, đá ném về phía nhóm T rồi bỏ chạy thì Phùng T cũng lấy một đoạn gỗ dài khoảng 01 mét ở cửa phòng giao ca ném về phía anh H. Còn T nhặt đoạn gậy gỗ vừa đánh anh K, đuổi theo anh H được khoảng 20 mét thì ném đoạn gậy gỗ về phía anh H nhưng không trúng, rồi quay lại. Trong lúc L đang dùng tay chân đánh anh K thì Phùng T đi đến nhặt đoạn gậy gỗ vừa ném anh H, cầm trên tay và vụt về phía anh K. Anh K giơ tay trái lên đỡ và bỏ chạy. Khi chạy đến khu vực lối ra cửa nhà để xe, anh K bị ngã xuống đất, L chạy đến tiếp tục dùng chân đá vào người anh K. Sau đó, anh Lê T và bà Lê Thị S (là mẹ anh Lê T) đến can ngăn thì nhóm T bỏ đi, c n anh K được đi cấp cứu. Ngày 05/8/2021, anh H đến Công an phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả trình báo.
Theo Giấy chứng nhận thương tích tạm thời ngày 05/8/2021 của Bệnh viện đa khoa khu vực Cẩm Phả, xác định thương tích của anh Phạm Hằng H như sau: xây xước mặt sau bàn tay phải, xây xước gối phải, ấn đau hạ sườn phải, X-Quang ngực: không có hình ảnh tổn thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 671/21/TgT ngày 13/9/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Quảng Ninh kết luận: Ngoài các thương tích Bệnh viện đã xác nhận, kết quả chụp cận lâm sàng ngày 31/8/2021- chụp CT-Scaner lồng ngực, phát hiện bị gẫy xương sườn 11 bên trái, vết hằn vùng lưng trái, do gãy xương sườn khó phát hiện trên phim chụp XQuang lồng ngực thông thường. Gãy xương sườn 11 bên trái phù hợp tổn thương ngày 4/8/2021 và tương ứng phía dưới vị trí vết hằn vùng lưng trái. Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 04%. Các tổn thương trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Theo giấy chứng nhận thương tích tạm thời ngày 05/8/2021 của Bệnh viện đa khoa khu vực Cẩm Phả, xác định thương tích của anh Đỗ Văn K: sưng nề bầm tím thái dương đỉnh phải kích thước (05x04)cm. Vết thương cung mày phải kích thước (02x1,5)cm. Vết thương mi trên đứt bờ mi, rách kết mạc mắt phải, sưng nề sung huyết nhãn cầu mắt phải. Vết thương mép môi trái kích thước (02x01)cm. Vết thước thái dương phải dài 01cm. Sưng nề bầm tím đầu dưới cẳng tay trái. X-Quang cẳng tay trái: Gãy 1/3 dưới xương trụ trái.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 672/21/TgT ngày 31/8/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Quảng Ninh kết luận: anh Đỗ Văn K bị thương tích tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29%. Các tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Quá trình điều tra, truy tố Cháng Văn T, Lê Quang L và Phùng Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. T, L và Phùng T còn khai thêm: cả ba đều không có bàn bạc thống nhất nhưng đến khi thấy L cãi nhau với anh H, còn T đánh anh K thì tất cả cùng đánh anh K và anh H. Đoạn gậy gỗ sử dụng để đánh anh H, anh K thì T và Phùng T đã vứt tại hiện trường, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
Cháng Văn T, Lê Quang L và Phùng Anh T đã bồi thường cho anh Đỗ Văn K số tiền 230.000.000 đồng; bồi thường cho anh Phạm Hằng H số tiền 5.000.000 đồng. Anh K không yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt đối với T, L và Phùng T. Anh H không yêu cầu K tố vụ án hình sự đối với các bị cáo.
Với nội dung trên tại Bản án sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2022, của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Phùng Anh T 21 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Ngoài ra bản án còn quyết định tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Cháng Văn T và Lê Quang L, quyết định án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/4/2022, bị cáo Phùng Anh T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phùng Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình cùng đồng phạm và khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, tuyên phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo với lí do bị cáo phạm tội xuất phát từ việc vào can ngăn và bảo vệ bạn (L), bị cáo còn trẻ, suy nghĩ c n nông nổi, mong Hội đồng xét xử khoan hồng cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh có quan điểm: Hành vi phạm tội của bị cáo cùng đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người khác, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm nên Bản án sơ thẩm tuyên phạt 21 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo. Đối với các tài liệu mới bị cáo cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm, qua xem xét đều không thuộc trường hợp quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự: Theo nội dung đơn ông Phùng Quang T trình bày, ông là thương binh hạng 1/8 (có Giấy chứng nhận thương binh), các con ông ở xa nên bị cáo ở cùng với ông để chăm sóc, nhưng đơn của ông Tuệ không có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, đồng thời tại phiên tòa, ông Phùng Ngọc T (bố bị cáo) khai ông Tuệ hiện sống một mình, bị cáo đi làm ăn xa không ở cùng với ông Tuệ. Đối với Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến của bà Lê Thị L theo lời khai của ông Thắng (bố bị cáo), bà L hiện đã mất, việc thờ cúng thuộc trách nhiệm của bác trưởng (anh trai cả ông T), gia đình bị cáo không phụng dưỡng và thờ cúng bà L. Đơn đề nghị của ông T trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ chồng ông sức khỏe yếu do hậu Covid-19, thường xuyên phải đi khám chữa bệnh tại các bệnh viện lớn nhưng không xuất trình được hồ sơ về việc khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” như cấp sơ thẩm đã truy tố là đúng, tuy nhiên hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ, bị cáo không tham gia từ đầu, chỉ có mục đích vào can ngăn, vai tr thứ yếu, có mức độ và không quyết liệt; Bản kết luận giám định về thương tích của bị hại Đỗ Văn K cộng tỷ lệ thương tích c n sai sót; việc đánh giá, xác định vai trò của bị cáo Phùng Anh T trong vụ án chưa chính xác; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; hoàn cảnh gia đình khó khăn, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm việc truy tố, xét xử bị cáo Phùng Anh T cùng đồng phạm, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) là có căn cứ. Quá trình điều tra, tại phiên t a sơ thẩm, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Theo diễn biến vụ án và lời khai của các bị cáo, sau khi xảy ra xô xát ở trước cửa ph ng giao ca, các bị cáo c n tiếp tục đuổi theo anh anh K đến tận khu vực nhà để xe, cách vị trí ban đầu là 96mét (căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường); trong quá trình truy đuổi, anh K vừa chạy, vừa quay lại van xin các bị cáo tha cho nhưng các bị cáo vẫn tiếp tục truy đuổi và đánh anh K cho đến khi có người can ngăn mới dừng lại, hành vi của các bị cáo thể hiện tính côn đồ hung hãn, có ý thức phạm tội đến cùng, mặc dù giữa bị hại và bị cáo không hề có mâu thuẫn gì.
Đối với việc đánh giá vai tr của bị cáo trong việc gây thương tích cho anh K đã được kiểm tra công khai tại phiên t a sơ thẩm, đã xác định: Tuấn là người dùng gậy gỗ vụt về phía anh K và anh K giơ tay lên đỡ thì bị trúng gậy gỗ, thương tích ở cẳng tay trái với tỷ lệ 13% là do Tuấn gây nên. Do đó, Bản án sơ thẩm đánh giá và xếp bị cáo giữ vai tr thứ 2 sau bị cáo T là có căn cứ.
Đối với các thương tích trên cơ thể của anh Đỗ Văn K đã được thể hiện đầy đủ tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 672/21/TgT ngày 31/8/2021, của Trung tâm pháp y- Sở y tế Quảng tỉnh. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây nên được áp dụng quy tắc cộng theo quy định tại Thông tư số 22/2019 ngày 28/8/2021 của Bộ Y tế là 29%. Sau khi có Kết luận giám định, Cơ quan điều tra đã Thông báo cho các bị cáo, bị hại biết và bị cáo không có khiếu kiện gì. Vì vậy, giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Anh T trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và các đồng phạm trong việc dùng chân, tay và gậy gỗ đánh gây thương tích cho anh H và anh K; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng khác trong vụ án cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: do mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa anh Phạm Hằng H và anh Lê Anh T nên khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/8/2021, tại khai trường Công ty than Thống Nhất (thuộc khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), Phùng Anh T cùng Cháng Văn T và Lê Quang L dùng gậy gỗ và tay chân đánh gây thương tích làm anh Phạm Hằng H bị tổn hại 04% sức khỏe và anh Đỗ Văn K bị tổn hại 29% sức khỏe. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt Phùng Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Về hình phạt và nội dung kháng cáo của bị cáo Phùng Anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá vai trò, xem xét tình tiết giảm nhẹ, thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 21 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp các tài liệu chứng cứ mới như: xác nhận bà nội có tham gia dân công hỏa tuyến, có bác ruột là thương binh và xin hưởng án treo nhưng xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ và phạm tội đến cùng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Anh T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm:
Tuyên bố: bị cáo Phùng Anh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phùng Anh T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Phùng Anh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND tỉnh QN; - TAND Tp. Cẩm Phả; - VKSND Tp. Cẩm Phả; - Công an Tp. Cẩm Phả; - Chi cục THADS Tp. Cẩm Phả; - THA, Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Đoan |