- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Đào - Phạm Minh Xưa"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH BL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2022 (V/v: Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N HUYỆN PL, TỈNH BL
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Danh Văn An
Các h i th m nhân dân:
1/. Bà Dương Thị Tú Phương
2/. Bà Võ Tuyết Kha
: Bà Nguyễn Thị N – Thư ký T a án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.
Đạ d ệ ệ ể á â dâ uyệ PL tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở T a án nhân dân huyện PL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 80/2022/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên t a số: 92/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị NTHĐ, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL.
- Bị đơn: Anh PMX, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL.
(Chị Đ có đơn xin vắng mặt, anh X vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ N:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/02/2022, các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị NTHĐ trình bày: Vào năm 2004, được sự cho phép của hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anh X nên vợ thành chồng, hôn nhân của chị và anh X là hoàn toàn tự nguyện, sau đó chị và anh X có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện PL, tỉnh BL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân mâu thuẫn để chị yêu cầu xin ly hôn với anh X là do tính tình giữa hai người không h a hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không c n hạnh phúc như trước. Do trong cuộc sống vợ chồng anh X rất gia trưởng, vợ con trong nhà không có quyền được giữ tiền bạc, anh X thường xuyên rượu chè bê tha và về gia đình hành hạ đánh đập vợ con, có lần anh X đánh chị phải nhập viện để điều trị cho nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau nữa, hiện tại chị không c n tình cảm gì với anh X nữa nên nay chị yêu cầu T a án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh PMX.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh X có 02 người con chung tên PTBN, sinh năm 2006 và PTT Đ, sinh 2011. Hiện tại cả hai cháu N và Đ đang sống cùng với anh X nên nay ly hôn nguyện vọng của các con sống với ai thì người đó nuôi. Nếu hai con có nguyện vọng sống cùng với anh X thì chị cũng đồng ý để hai con N và Đ cho anh X được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.
Về tài sản chung và nợ chung chị Đ xác định: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh X không có tài sản chung và nợ chung nên khi ly hôn chị không đặt ra yêu cầu T a án xem xét giải quyết.
Theo bị đơn anh PMX trình bày: Về hôn nhân, con chung, về tài sản chung và nợ chung như chị NTHĐ trình bày là đúng. Vợ chồng anh có mâu thuẩn và anh có đánh chị Đ như lời chị NTHĐ trình bày, hiện tại vợ chồng anh đã ly thân với nhau. Tuy nhiên, hiện nay anh vẫn c n thương chị Đ nên anh không đồng ý ly hôn mà có nguyện vọng yêu cầu được đoàn tụ với chị NTHĐ. Nếu T a án giải quyết cho chị Đ và anh ly hôn với nhau thì con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng giáo dục. Nếu hai con N và Đ có nguyện vọng sống cùng với anh thì anh đồng ý nuôi con và anh cũng không yêu cầu chị Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị NTHĐ là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh PMX chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của T a án.
Về nội dung vụ án: Chị Đ và anh X kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, chị Đ và anh X xác định anh chị có đến UBND xã PL để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nhưng tại giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/9/2011, lại không có chữ ký của chị Đ. Tuy nhiên, tại sổ đăng ký kết hôn thì lại có chữ ký của anh X và chị Đ. Theo công văn số 58/UBND ngày 16/6/2022 của UBND xã PL xác định chị Đ và anh X có đến UBND xã PL để đăng ký kết hôn và có ký tên vào sổ lưu đăng ký kết hôn theo quy định nhưng do sơ suất nên trong giấy kết hôn chị Đ chưa ký tên vào. Xét thấy anh X và chị Đ tự nguyện xây dựng hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị mỗi người sống một nơi, không c n quan tâm chăm sóc cho nhau. Xét thấy hôn nhân giữa chị Đ và anh X nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không c n hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đ được ly hôn với anh X là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị NTHĐ và anh PMX thống nhất thỏa thuận các con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi. Hiện tại cả hai con N và Đ đang sống cùng với anh X. Mặc khác, qua tiếp xúc với cháu Đ thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với anh X khi chị Đ và anh X ly hôn với nhau. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của chị NTHĐ và anh PMX giao cả hai con N và Đ cho anh X được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.
Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị Đ và anh X không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đ có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh PMX, anh X có địa chỉ cư trú tại huyện PL, tỉnh BL. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.
Chị NTHĐ có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên t a sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Đ.
Anh PMX đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên t a xét xử sơ thẩm, nhưng anh X vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh X.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Đ và anh X kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện PL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đ đối với anh X thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng chị Đ và anh X lại không làm được, mà c n phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo chị Đ xác định, trong cuộc sống vợ chồng anh X rất gia trưởng, thường xuyên rượu chè, hành hạ đánh đập vợ con, có lần anh X đánh chị phải nhập viện để điều trị cho nên hiện tại chị không c n tình cảm gì với anh X nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh PMX.
Anh PMX không đồng ý ly hôn mà yêu cầu xin được đoàn tụ với chị Đ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù anh X xác định c n thương vợ con nên mong muốn được hàn gắn lại với chị Đ nhưng từ khi anh chị sống ly thân cho đến ngày T a án thụ lý giải quyết vụ án và tiến hành h a giải đoàn tụ cho anh chị nhưng anh X không đến T a án cũng như không có biện pháp nào thể hiện thiện chí mong muốn được hàn gắn lại với chị Đ. Từ đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị Đ và anh X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị NTHĐ xin ly hôn với anh PMX là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị Đ và anh X chung sống với nhau có 02 người con chung tên PTBN, sinh năm 2006 và PTT Đ, sinh 2011. Hiện tại cháu N và Đ đang sống cùng với anh X, từ khi chị Đ và anh X sống ly thân với nhau đến nay thì anh X là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Mặc khác, qua tiếp xúc với cháu Đ thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với anh X khi chị Đ và anh X ly hôn với nhau. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của hai cháu N và Đ khi đang sống với anh X nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao người con chung tên PTBN, sinh ngày 15/3/2006 và PTT Đ, sinh ngày 11/8/2011 cho anh X được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Anh PMX không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NTHĐ.
Chị NTHĐ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Nếu sau này chị Đ chứng minh được việc anh X nuôi con nhưng không lo lắng chăm sóc tốt cho cuộc sống của con thì chị có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị NTHĐ và anh PMX không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Từ những nhận định trên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án;
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị NTHĐ. Cho chị NTHĐ được ly hôn với anh PMX.
2/. Về con chung: Giao 02 người con chung tên PTBN, sinh ngày 15/3/2006 và PTT Đ, sinh ngày 11/8/2011 cho anh PMX được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh PMX không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NTHĐ.
Chị NTHĐ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị NTHĐ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005068 ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL, tỉnh BL.
5/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
6/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BL; - VKSND huyện PL; - Chi cục THADS huyện PL; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH BL Bản án số: 51/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2022 (V/v: Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung) NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Danh Văn An Các h i th m nh n d n: 1/. Bà Dương Thị Tú Phương 2/. Bà Võ Tuyết Kha BL. Loan, Kiểm sát viên. quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị NTHĐ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL. - Bị đơn: Anh PMX, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL. NỘI DUNG VỤ N: trình tố tụng, nguyên đơn chị NTHĐ trình bày: Vào năm 2004, được sự cho phép của hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anh X nên vợ thành chồng, hôn nhân của chị và anh X là hoàn toàn tự nguyện, sau đó BL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. c n hạnh phúc như trước. Do trong cuộc sống vợ chồng anh X rất gia trưởng, vợ con trong nhà không có quyền được giữ tiền bạc, anh X thường xuyên rượu chè bê tha và về gia đình hành hạ đánh đập vợ con, có lần anh X đánh chị phải nhập viện để điều trị cho nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau nữa, hiện tại chị không c n tình cảm gì với anh X nữa nên nay chị yêu cầu T a án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh PMX. Đ đang sống cùng với anh X nên nay ly hôn nguyện vọng của các con sống với ai thì người đó nuôi. Nếu hai con có nguyện vọng sống cùng với anh X thì chị cũng đồng ý để hai con N và Đ cho anh X được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. chồng chị và anh X không có tài sản chung và nợ chung nên khi ly hôn chị không đặt ra yêu cầu T a án xem xét giải quyết. nợ chung như chị NTHĐ trình bày là đúng. Vợ chồng anh có mâu thuẩn và anh có đánh chị Đ như lời chị NTHĐ trình bày, hiện tại vợ chồng anh đã ly thân với nhau. Tuy nhiên, hiện nay anh vẫn c n thương chị Đ nên anh không đồng ý ly hôn mà có và anh ly hôn với nhau thì con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng giáo dục. Nếu hai con N và Đ có nguyện vọng sống cùng với anh thì anh đồng ý nuôi con và anh cũng không yêu cầu chị Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau: vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị NTHĐ là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh PMX chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án. của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, chị Đ và anh X xác định anh chị có đến UBND hôn ngày 15/9/2011, lại không có chữ ký của chị Đ. Tuy nhiên, tại sổ đăng ký kết hôn thì lại có chữ ký của anh X và chị Đ. Theo công văn số 58/UBND ngày 16/6/2022 của UBND xã PL xác định chị Đ và anh X có đến UBND xã PL để đăng ký kết hôn và có ký tên vào sổ lưu đăng ký kết hôn theo quy định nhưng do sơ suất nên trong giấy kết hôn chị Đ chưa ký tên vào. Xét thấy anh X và chị Đ tự nguyện xây dựng hôn mỗi người sống một nơi, không c n quan tâm chăm sóc cho nhau. Xét thấy hôn nhân giữa chị Đ và anh X nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không c n hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đ được ly hôn với anh X là phù hợp với quy định của pháp luật. cùng với anh X. Mặc khác, qua tiếp xúc với cháu Đ thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với anh X khi chị Đ và anh X ly hôn với nhau. Vì vậy, đề nghị Hội đồng anh X được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy: chấp ly hôn với anh PMX, anh X có địa chỉ cư trú tại huyện PL, tỉnh BL. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PL, tỉnh BL. khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Đ. điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh X. được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện PL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng chị Đ và anh X lại không làm được, mà c n phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo chị Đ xác định, trong cuộc sống vợ chồng anh X rất gia trưởng, thường xuyên rượu chè, hành hạ đánh đập vợ con, có lần anh X đánh chị phải chị yêu cầu được ly hôn với anh PMX. đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù anh X xác định c n thương vợ con nên mong muốn được hàn gắn lại với chị Đ nhưng từ khi anh chị sống ly thân cho đến ngày T a án thụ T a án cũng như không có biện pháp nào thể hiện thiện chí mong muốn được hàn gắn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị NTHĐ xin ly hôn với anh PMX là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp. không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NTHĐ. được quyền cản trở. Nếu sau này chị Đ chứng minh được việc anh X nuôi con nhưng không lo lắng chăm sóc tốt cho cuộc sống của con thì chị có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. huyện PL về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì các lẽ nêu trên; luật Tố tụng dân sự năm 2015; năm 2014; ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án; Tuyên xử: NTHĐ. Cho chị NTHĐ được ly hôn với anh PMX. PTT Đ, sinh ngày 11/8/2011 cho anh PMX được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NTHĐ. được quyền cản trở. gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã cục Thi hành án dân sự huyện PL, tỉnh BL. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./. Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hội thẩm nhân dân Dƣơng Thị Tú Phƣơng TÒA N NH N D N HUYỆN PL TỈNH BL BIÊN BẢN NGHỊ N nghị án của T a án nhân dân huyện PL, tỉnh BL. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên t a: Ông Danh Văn An - Cùng các vị Hội thẩm: 1/. Bà Dƣơng Thị Tú Phƣơng 2/. Bà Võ Tuyết Kha hôn và nuôi con chung thụ lý số: 80/2022/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị NTHĐ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL. - Bị đơn: Anh PMX, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp PT, xã PL, huyện PL, tỉnh BL. tại phiên tòa và các quy định c a pháp luật; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH C C VẤN ĐỀ CỦA VỤ N NHƢ SAU Sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất 3/3, quyết định: luật Tố tụng dân sự năm 2015; năm 2014; ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án; Tuyên xử: NTHĐ. Cho chị NTHĐ được ly hôn với anh PMX. PTT Đ, sinh ngày 11/8/2011 cho anh PMX được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NTHĐ. được quyền cản trở. gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã cục Thi hành án dân sự huyện PL, tỉnh BL. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nghị án kết lúc vào lúc……giờ…..phút, ngày 28 tháng 6 năm 2022. cùng nghe và ký tên dưới đây. Thành viên Hội đồng xét xử Dƣơng Thị Tú Phƣơng Võ Tuyết Kha | Danh Văn An CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc [ NHÂN DANH TÒA N NH N D N HUYỆN PL, TỈNH BL : Bà Nguyễn Thị N – Thư ký T a án nhân dân huyện PL, tỉnh Đạ d ệ ệ ể á â dâ uyệ PL tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở T a án nhân dân huyện PL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 80/2022/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung”, theo 2022 và Quyết định hoãn phiên t a số: 92/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm (Chị Đ có đơn xin vắng mặt, anh X vắng mặt lần 2 không có lý do). Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/02/2022, các biên bản lấy lời khai trong quá chị và anh X có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện PL, tỉnh Nguyên nhân mâu thuẫn để chị yêu cầu xin ly hôn với anh X là do tính tình giữa hai người không h a hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh X có 02 người con chung tên PTBN, sinh năm 2006 và PTT Đ, sinh 2011. Hiện tại cả hai cháu N và Về tài sản chung và nợ chung chị Đ xác định: Trong thời gian chung sống vợ Theo bị đơn anh PMX trình bày: Về hôn nhân, con chung, về tài sản chung và nguyện vọng yêu cầu được đoàn tụ với chị NTHĐ. Nếu T a án giải quyết cho chị Đ Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu quan điểm Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết Về nội dung vụ án: Chị Đ và anh X kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân xã PL để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nhưng tại giấy chứng nhận kết nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị Về con chung: Chị NTHĐ và anh PMX thống nhất thỏa thuận các con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi. Hiện tại cả hai con N và Đ đang sống xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của chị NTHĐ và anh PMX giao cả hai con N và Đ cho Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị Đ và anh X không đặt ra yêu cầu, Về án phí hôn nhân gia đình chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật. Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đ có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh Chị NTHĐ có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên t a sơ thẩm. Căn cứ Anh PMX đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên t a xét xử sơ thẩm, nhưng anh X vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ [2] Về nội dung vụ án: Chị Đ và anh X kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đ đối với anh X thì Hội đồng xét xử thấy rằng: nhập viện để điều trị cho nên hiện tại chị không c n tình cảm gì với anh X nữa nên Anh PMX không đồng ý ly hôn mà yêu cầu xin được đoàn tụ với chị Đ. Hội lý giải quyết vụ án và tiến hành h a giải đoàn tụ cho anh chị nhưng anh X không đến lại với chị Đ. Từ đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị Đ và anh X đã nhân không đạt được, vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, [3] Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị Đ và anh X chung sống với nhau có 02 người con chung tên PTBN, sinh năm 2006 và PTT Đ, sinh 2011. Hiện tại cháu N và Đ đang sống cùng với anh X, từ khi chị Đ và anh X sống ly thân với nhau đến nay thì anh X là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Mặc khác, qua tiếp xúc với cháu Đ thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với anh X khi chị Đ và anh X ly hôn với nhau. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của hai cháu N và Đ khi đang sống với anh X nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao người con chung tên PTBN, sinh ngày 15/3/2006 và PTT Đ, sinh ngày 11/8/2011 cho anh X được tiếp Anh PMX không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử Chị NTHĐ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai [4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị NTHĐ và anh PMX không yêu cầu nên [5] Từ những nhận định trên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUYẾT ĐỊNH Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị 2/. Về con chung: Giao 02 người con chung tên PTBN, sinh ngày 15/3/2006 và Anh PMX không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử Chị NTHĐ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai 3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. 4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị NTHĐ phải chịu án phí hôn nhân và nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005068 ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Chi 5/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của 6/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự Danh Văn An Võ Tuyết Kha CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PL, ngày 28 tháng 6 năm 2022 Hôm nay, vào lúc…….giờ…….phút ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại Ph ng Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình về việc tranh chấp yêu cầu xin ly Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị 2/. Về con chung: Giao 02 người con chung tên PTBN, sinh ngày 15/3/2006 và Anh PMX không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử Chị NTHĐ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai 3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. 4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị NTHĐ phải chịu án phí hôn nhân và nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005068 ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Chi 5/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của 6/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên của Hội đồng xét xử Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Danh Văn An |