vanban.org

Bản án 51/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các điều 91, 92 và 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hoàng Thị Anh H ly hôn với ông Lê Công B. Về con chung: Giao Lê Công H (giới tính nam), sinh ngày 26/9/2004 cho bà Hoàng Thị Anh H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Công B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà H yêu cầu ly hôn ông B"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 91, 92 và 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 6 - 2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Việt Khái.

Bà Phạm Hồng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Anh H, sinh năm 1964 (xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Lê Công B, sinh năm 1973 (xin vắng mặt).

Cùng cư trú: Khóm 7, thị t, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/12/2021, các văn bản kèm theo bà Hoàng Thị Anh H trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2002, bà và ông Lê Công B kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thì bà H và ông B thường xuyên cãi vả, phát sinh nhiều mâu thuẫn trong lối sống, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cải, có hòa giải nhiều lần nhưng không hàn gắn được, bà và ông B không còn chung sống với nhau. Bà H xác định là ông không còn tình cảm dành cho ông B. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên bà H không thể đoàn tụ gia đình với ông B, nay bà cương quyết ly hôn với ông B và yêu cầu Tòa án xét xử cho bà ly hôn ông Lê Công B.

Về con chung: Có hai người con chung tên Lê Thị Xuân H1, sinh ngày 20/01/2003 và Lê Công H, sinh ngày 26/9/2004, hiện tại hai người con đang chung sống với bà H. Lê Thị Xuân H1 đã thành niên và tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng Lê Công H hiện nay đang chung sống với bà, bà yêu cầu được nuôi dưỡng và bà không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Hoàng Thị Anh H xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.

Tại Bản tự khai và đơn yêu cầu xin vắng mặt cùng ngày 15/4/2022 ông Lê Công B trình bày:

Ông Lê Công B thống nhất phần trình bày của bà Hoàng Thị Anh H về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung, đồng thời ông thống nhất tất cả các yêu cầu của bà H. Do cuộc sống làm ăn xa không về được để giải quyết việc ly hôn nên ông Lê Công B xin vắng mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm và không có ý kiến gì khác.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 91, 92 và 94 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chấp nhận cho bà Hoàng Thị Anh H ly hôn với ông Lê Công B; Về con chung: Có hai người con chung tên Lê Thị Xuân H1, sinh ngày 20/01/2003 và Lê Công H, sinh ngày 26/9/2004, hiện tại hai người con chung đang do ông B nuôi dưỡng. Lê Thị Xuân H1 đã thành niên và tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Lê Công H có nguyện vọng sống chung cùng với bà H nên chấp nhận yêu cầu của bà H là phù hợp, ông B không cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Lê Công B và bà Hoàng Thị Anh H xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Năm 2002, bà Hoàng Thị Anh H và ông Lê Công B chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bà Hoàng Thị Anh H và ông Lê Công B xác định không còn tình cảm dành cho nhau. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nhận thấy, quan hệ hôn nhân của bà Hoàng Thị Anh H và ông Lê Công B đã trong tình trạng trầm trọng, đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng mà không thể hòa giải hàn gắn được. Xét cho bà Hoàng Thị Anh H ly hôn với ông Lê Công B là có cơ sở.

[3] Về con chung: Có hai người con chung tên Lê Thị Xuân H1, sinh ngày 20/01/2003 và Lê Công H, sinh ngày 26/9/2004, hiện tại hai người con đang do bà H nuôi dưỡng. Lê Thị Xuân H1 đã thành niên và tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặc khác cháu Lê Công H có nguyện vọng sống chung cùng với bà H nên chấp nhận yêu cầu của bà H là phù hợp, ông B và bà H thỏa thuận ông B không phải cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Anh H phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các điều 91, 92 và 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ các điều 28, 35, 39 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hoàng Thị Anh H ly hôn với ông Lê Công B.

2. Về con chung: Giao Lê Công H (giới tính nam), sinh ngày 26/9/2004 cho bà Hoàng Thị Anh H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Công B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Công B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Anh H phải chịu 300.000 đồng. Bà Hoàng Thị Anh H đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0017624 ngày 23/02/2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bà Hoàng Thị Anh H và ông Lê Công B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ