vanban.org

Bản án 51/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Thị Lam Nguyễn Hồng Diện

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hồng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị La Thị Th và anh Ma Văn Ng"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Thị Lam Nguyễn Hồng Diện

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 tại thôn T, xã V huyện B, tỉnh H.
Việc anh chị chung sống với nhau được hai bên gia đình chấp nhận và được hàng
xóm, bạn bè chứng kiến. Anh chị chung sống với nhau như vợ chồng từ đó cho đến
nay nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã Vô Điếm nơi anh chị cư trú, mặc
dù cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và

Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến đầu năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống nên giữa anh chị thường xẩy ra xô sát, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng quan hệ hôn nhân vẫn không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, việc ai người đấy làm, không quan tâm đến nhau. Quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu Ma Bình T, sinh ngày 17/4/2010. Khi ly hôn, chị La Thị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị La Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ma Văn N không gửi bản tự khai, không cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án. Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Ma Văn N nhiều lần để lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Ma Văn N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại các biên bản xác minh ngày 30/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với trưởng thôn Thia và cán bộ tư pháp xã Vô Điếm, nơi anh Ma Văn N và chị La Thị T sinh sống, phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau: Nguyên đơn chị La Thị T , sinh năm 1989 và bị đơn là anh Ma Văn N , sinh năm 1987 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã V huyện B, tỉnh H và từ trước đến nay vẫn sinh sống tại Xóm A, thôn, xã V, huyện B, tỉnh H. Chị La Thị T và anh Ma Văn N tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 tại thôn T, xã V huyện B, tỉnh H. Việc anh chị chung sống với nhau được hai bên gia đình chấp nhận và được hàng xóm, bạn bè chứng kiến. Anh chị chung sống với nhau như vợ chồng từ đó cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã Vô Điếm nơi anh chị cư trú, mặc dù cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến đầu năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống nên giữa anh chị thường xẩy ra xô sát, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng quan hệ hôn nhân vẫn không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng nên

[2]"Về"nội"dung:

[2.1]"Về"yêu"cầu"xin"ly"hôn:"Chị La Thị T và anh Ma Văn N bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 tại thôn T, xã V, huyện B đến nay nhưng anh chị vẫn không đăng ký kết hôn tại UBND xã nơi anh chị cư trú thực hiện mặc dù cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

"Trong"trường"hợp"không"đăng"ký"kết"hôn"mà"có"yêu"cầu"ly"hôn"thì"Toà"án" thụ"lý"và"tuyên"bố"không"công"nhận"quan"hệ"vợ"chồng"theo"quy"định"tại"khoản"1" Điều"14"của"Luật"này;"nếu"có"yêu"cầu"về"con"và"tài"sản"thì"giải"quyết"theo"quy"định" tại"Điều"15"và"Điều"16"của"Luật"này""

Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

"Nam,"nữ"có"đủ"điều"kiện"kết"hôn"theo"quy"định"của"Luật"này"chung"sống" với"nhau"như"vợ"chồng"mà"không"đăng"ký"kết"hôn"thì"không"làm"phát"sinh"quyền," nghĩa"vụ"giữa"vợ"và"chồng""

Như vậy, việc anh chị chung sống với nhau như vợ chồng được hai bên gia đình chấp nhận và được hàng xóm, bạn bè chứng kiến nhưng không có đăng ký kết hôn. Đến nay nguyên đơn là chị La Thị T có yêu cầu xin ly hôn anh Ma Văn N , Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị cần được xử bằng một bản án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai anh chị là có cơ sở.

[2.2]"Về việc nuôi con:"Hội đồng xét xử thấy rằng"quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu"Ma Bình T, sinh ngày 17/4/2010. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu T và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy nguyện vọng nuôi con của chị T xuất phát từ tình cảm, vì lợi ích của con, trong thời gian anh chị sống ly thân chị T là người nuôi dưỡng cháu T, bên cạnh đó cháu T có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu được sống cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Ma Bình T cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi và anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3]"Về"chia"tài"sản"chung: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]"Về"án"phí:"Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ