vanban.org

Bản án 51/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đậu Thị H.

Buộc ông Trần Văn S và bà Tr ơng Thị U có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Đậu Thị H số tiền 64.000.000đ (sáu m ơi bốn triệu đồng). Trong đó: tiền vay gốc 50.000.000đ và 14.000.000đ tiền lãi suất. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2022) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đậu Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2022/DS-ST
Ngày: 28– 09 – 2022.
Về việc: “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mai.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Y Ník Êban và bà Nguyễn Thị Tuyết.

- Th ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam - Th k Tòa án nhân dân huyện Ea Kar.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n aKar tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số: 136/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 05 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST – DS, ngày 30 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2022/QĐST–DS, ngày 12/9/2022, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Đậu Thị H, sinh năm: 1976. Nơi c trú: Thôn Ch Cúc, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U. Nơi c trú: Thôn 6B, xã L, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

* Theo đơn khởi kiện, ngày 13/5/2022 và tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng nh tại phiên tòa nguyên đơn bà Đậu Thị H trình bày: Vào ngày 05/5/2021 bà H cho ông Trần Văn S và bà Tr ơng Thị U, c trú ở Thôn 6B, xã L, huyện K vay số tiền 50.000.000đ (Năm m ơi triệu đồng chẵn ), lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/ tháng. Hẹn đến ngày 24/11/2021 âm lịch (tức ngày 27/12/2021 d ơng lịch) trả tiền. Tuy nhiên đã quá hạn trả nợ mặc dù bà H đã nhiều lần đến nhà đòi nh ng ông S, bà U không trả nợ và tr ớc khi tôi nộp đơn khởi kiện ra Tòa án thì bà H có báo cho bà U, ông S biết và bà U có hứa sẽ trả cho bà H tr ớc số tiền 25.000.000đ vay gốc và số tiền còn lại hẹn một tháng sau sẽ trả, tới nay bà U, ông S ch a trả cho tôi đ ợc khoản tiền vay gốc và lãi suất nào. Vì vậy tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U trả cho bà Đậu Thị H số tiền vay gốc là 50.000.0000đ (Năm m ơi triệu đồng chẵn) và khoản tiền lãi suất phát sinh theo quy định của pháp luật là 20%/năm (t ơng đ ơng mức lãi suất 1.66%/ tháng) tính từ ngày vay 05/5/2021 cho đến khi thanh toán xong nợ.

* Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn bà Tr ơng Thị U, ông Trần Văn S trình bày: Vào ngày 05/5/2021 ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U vay của bà Đậu Thị H số tiền 50.000.000đ (Năm m ơi triệu đồng chẵn ), với mức lãi suất là 2%/ tháng. Hẹn đến ngày 24/11/2021 âm lịch (tức ngày 27/12 2021) trả đủ nh ng ch a trả. Đến khoảng tháng 4/2022 bà U có đem ra trả cho bà H số tiền 25.000.000đ vay gốc nh ng bà H không đồng nên bà U dùng số tiền đó trả nợ cho ng ời khác, hiện tại ông S, bà U còn nợ bà H 50.000.000đ vay gốc và lãi suất phát sinh. Nguyện vọng của bà U, ông S đồng trả số tiền vay gốc, cùng với lãi suất phát sinh theo yêu cầu khởi kiện của bà H và hẹn đến cuối năm 2022 trả dứt điểm số tiền trên.

Sau khi thụ l vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ l vụ án cho nguyên đơn, bị đơn; tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, mở phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nh ng chỉ có nguyên đơn bà Đậu Thị H và bị đơn bà Tr ơng Thị U có mặt; bị đơn ông Trần Văn S vắng mặt không có l do; Căn cứ khoản 3 Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt đối với bị đơn ông Trần Văn S. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đ a vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận:

- Bà Đậu Thị H trình bày kiến tranh luận: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện, không có kiến tranh luận gì thêm.

- Bị đơn ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U vắng mặt tại phiên tòa không có l do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu kiến:

Về tố tụng: Việc tiếp nhận đơn khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, thụ l và ra thông báo thụ l vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định t cách tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đảm bảo quyền tham gia tố tụng của các bên.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử (HĐXX): HĐXX, nguyên đơn bà Đậu Thị H, bị đơn bà Tr ơng Thị U đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Thành phần Hội đồng xét xử và th k phiên tòa đúng theo quyết định đ a vụ án ra xét xử. Bị đơn ông Trần Văn S mặc dù đã đ ợc Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nh ng vắng mặt tại các buổi làm việc, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và ngh a vụ đ ợc quy định tại Điều 70, Điều 73, Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Đề nghị HĐXX tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đậu Thị H. Buộc ông Trần Văn S và bà Tr ơng Thị U có trách nhiệm trả cho bà Đậu Thị H số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2022) là 64.000.000đ (Sáu m ơi bốn triệu đồng). Trong đó tiền vay gốc 50.000.000đ; tiền lãi suất là 14.000.000đ. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Đậu Thị H, lập ngày 13 tháng 5 năm 2022 và chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện là giấy vay tiền, lập ngày 05/5/2021 (bút lục số 02, 34), Toà án nhân dân huyện Ea Kar xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đ ợc quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy tại thời điểm khởi kiện bị đơn ông Trần Văn S bà Tr ơng Thị U, c trú tại Thôn 6B, xã L, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar thụ l giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Xét thấy Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Tr ơng Thị U, ông Trần Văn S: Quyết định đ a vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa nh ng ông Trần Văn S bà Tr ơng Thị U vắng mặt lần thứ hai không có l do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn bà Tr ơng Thị U, ông Trần Văn S theo quy định của pháp luật.

[2] Xét về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đậu Thị H, đề nghị HĐXX buộc ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U có trách nhiệm trả cho bà Đậu Thị H số tiền 50.000.000đ (năm m ơi triệu đồng) vay gốc, HĐXX nhận định: Vào ngày 05/5/2021 ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U k xác lập hợp đồng vay của bà Đậu Thị H với số tiền 50.000.000đ, mức lãi suất là 2% và đến ngày 24/11/2021âm lịch trả dứt điểm. Sự việc trên đã đ ợc bà Hiền, ông S và bà U thừa nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của BLTTDS, Tòa án công nhận đó là sự thật không cần phải chứng minh.

Theo giấy vay tiền lập ngày 05/5/2021, thì các bên thỏa thuận thời hạn trả nợ gốc và lãi vào ngày 24/11/2021 âm lịch (tức ngày 27/12 2021), tuy nhiên từ khi xác lập hợp đồng vay cho đến nay ông S, bà U ch a trả tiền cho bà H là vi phạm ngh a vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự (BLDS).

Tại khoản 1 Điều 466 của BLDS quy định:

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; Nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại, đúng số l ợng, chất l ợng, trừ tr ờng hợp có thỏa thuận khác.

Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Đậu Thị H là có căn cứ, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463; Khoản 1 Điều 466 của BLDS chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đậu Thị H. Buộc ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U trả cho bà Đậu Thị H số tiền 50.000.000đ (Năm m ơi triệu đồng) vay gốc là đúng với quy định của pháp luật.

[2.2] Về lãi suất: Theo giấy vay tiền, lập ngày 05/5/2021, thể hiện mức lãi suất là 2%/tháng (t ơng đ ơng mức lãi suất 24%/năm), nh vậy mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay đã v ợt quá mức lãi suất là 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U đồng trả cho nguyên đơn mức lãi suất là 20%/năm. Tại phiên tòa bà H đề nghị HĐXX tính lãi suất 20%/ năm (tức 1,66%/tháng) từ ngày vay 05/5/2021cho đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 28/9/2022 là có căn cứ đ ợc quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Mức lãi suất đ ợc tính nh sau: Bà U, ông S vay từ ngày 05/5/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 28/9/2022 là 511 ngày x 20%/năm x 50.000.000đ/365 ngày = 14.000.000đ.

Nh vậy, tổng cộng số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh, HĐXX buộc ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U trả cho bà Đậu Thị H là 64.000.000đ (Sáu m ơi bốn triệu đồng chẵn). Trong đó: Tiền vay gốc là 50.000.000đ và tiền lãi suất là 14.000.000đ.

[3] Về tiền tạm ứng án phí và án phí sơ thẩm:

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U phải chịu 3.200.000đ (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (theo mức: 64.000.000đ x 5%).

- Về tiền tạm ứng án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đ ợc chấp nhận, HĐXX tuyên trả lại cho bà Đậu Thị H số tiền 1.499.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 60AA/2021/0006126, ngày 18/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

[4] Xét kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận toàn bộ kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 203, khoản 3 Điều 209, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, khoản 1 Điều 466 và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đậu Thị H.

1. Buộc ông Trần Văn S và bà Tr ơng Thị U có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Đậu Thị H số tiền 64.000.000đ (sáu m ơi bốn triệu đồng). Trong đó: tiền vay gốc 50.000.000đ và 14.000.000đ tiền lãi suất.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2022) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án (ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí và tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U phải chịu 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

- Bà Đậu Thị H đ ợc nhận lại số tiền 1.499.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 60AA/2021/0006126, ngày 18/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Đậu Thị H đ ợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn ông Trần Văn S, bà Tr ơng Thị U vắng mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc từ ngày bản án đ ợc niêm yết hợp lệ.

Trong tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ