- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Anh Đỗ Văn Nh khởi kiện chị Đào Thị H"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2022/DS-ST ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2022/DSPT Ngày: 18/7/2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính
Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 72/2022/TLPT-DS ngày 18/4/2022 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2022/DS-ST ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 72/2022/QĐ-PT, ngày 10/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn Nh, sinh năm 1976 (có mặt).
Trú tại: Thôn Nh, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nhân: Ông Tr n Văn Trư ng – u t sư C ng ty lu t TNHH C ng inh; địa chỉ: Số 55 đư ng Nguyễn ia Thiều, phư ng Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Trú tại: Th n , xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Ngư i được chị Hoài uỷ quyền: Anh Nguyễn Đình âm, sinh năm 1981.
Trú tại: Số 24, ngõ 282, đư ng Kim iang, phư ng Đại Kim, qu n Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị , sinh năm 1962 (vắng mặt).
2. Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1960 ( ng Hoà uỷ quyền cho bà ợi).
Trú tại: Thôn Nh, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
3. Anh Chu Văn Th, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn Ng, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
4. Ngân hàng T CP Quốc Tế Việt Nam.
Địa chỉ: T ng 1, Toà nhà Salling Tower, số 111A Pasteur, phư ng Bến Nghé, qu n 1, thành phố Hồ Chí inh.
Ngư i đại diện theo pháp lu t: Ông Hàn Ngọc Vũ - Tổng iám đốc.
Ngư i đại diện theo uỷ quyền: Ông Tr n Thành C ng - iám đốc Thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ -Trung tâm Quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ - Khối Ngân hàng bán lẻ VIB.
Ngư i được uỷ quyền lại: Ông ê Xuân Hoàng Dương - Cán bộ ngân hàng (có mặt); Bà Vũ Thị Oanh Kiều - Cán bộ ngân hàng (vắng mặt); Ông Vũ Tiến Bình
- Cán bộ ngân hàng (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: T ng 10, Tòa nhà Hồng Hà, số 37 Ng Quyền, qu n Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
5. Ông Đỗ Thế Ph, sinh năm 1935 (vắng mặt).
Trú tại: Khu phố 1, phư ng Ph, thị xã B, tỉnh Thanh Hoá.
Ngư i đại diện theo ủy quyền của ng Phiệt: Ông Vũ Văn Nghiệm, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số 48, đư ng Nguyễn ia Thiều, phư ng Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
6. Bà Ng Thị B, sinh năm 1949 (vắng mặt).
7. Chị Nguyễn Thị , sinh năm 1979 (ủy quyền cho anh Nhân).
8. Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1999 (vắng mặt).
9. Chị Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 2002 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn Ng, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
10. Anh Đỗ Văn , sinh năm 1979 (vắng mặt).
Trú tại: Số 02, Đào Duy Tùng, th n Nghi, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
11. Văn phòng c ng chứng Hoàng Phong.
Địa chỉ: Số 200, Phố ới, thị trấn Ch , Yên Phong, Bắc Ninh.
Do bà Ng Thị T, Trưởng văn phòng đại diện (vắng mặt).
12. Uỷ ban nhân dân xã Tam iang.
Địa chỉ: xã Tam iang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo pháp lu t: Ông ê Đắc Kh, Chủ tịch UBND xã.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Kiều Văn H, C ng chức địa chính - xây dựng xã Tam iang (vắng mặt).
13. Anh Chu Văn V, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn Ng, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
14. Anh Ngô Quý H, sinh năm 1980.
Trú tại: Th n V, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Ngư i kháng cáo: Anh Đỗ Văn Nh, ông Đỗ Thế Ph.
Quyết định kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn là anh Đỗ Văn Nh trình bày: Nguồn gốc thửa đất diện tích 633,0m2 tại địa chỉ: Th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh do HTX th n Như Nguyệt cấp cho bố mẹ anh là Đỗ Thế Ph và Ng Thị B từ năm 1976.
Trên đất có 01 ng i nhà 03 gian gỗ lợp ngói, 01 buồng đổ tr n khép kín và c ng trình phụ do bố mẹ anh xây từ năm 1995. Năm 2009 vợ chồng anh phá khu bếp cũ và xây 01 c ng trình phụ gồm nhà tắm, nhà vệ sinh, bếp lợp t n. Năm 2019 vợ chồng anh làm 01 lán lợp t n khung sắt để bán bia. Đã được Uỷ ban nhân dân huyện Yên Phong (viết tắt là UBND) cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất (gọi tắt là iấy CNQSDĐ) cho mẹ anh là Ng Thị B ngày 23/02/2001 là thửa đất kh ng số, t bản đồ 23, diện tích 633m2.
Ngày 23/01/2016 mẹ anh và vợ chồng anh đã bán cho vợ chồng bà Nguyễn Thị , ông Đỗ Văn H diện tích 120m2 đất trong tổng số 633m2 đất với số tiền 300.000.000đ, hợp đồng có giấy viết tay, kh ng có xác nh n của chính quyền địa phương, kh ng có c ng chứng. Bà ợi đã trả cho anh số tiền 290.000.000đ, còn 10.000.000đ hai bên thoả thu n khi nào tách sổ đỏ sang tên vợ chồng bà ợi thì bà ợi sẽ trả nốt.
Sau khi chuyển nhượng, gia đình anh đã giao đất cho vợ chồng bà ợi ngay từ năm 2016, vợ chồng bà ợi nh n đất lu n và làm 01 lán xưởng lợp t n để làm xưởng mộc. Vì lý do ph n diện tích 120m2 nằm ngoài diện tích 633m2 nên không thể tách sổ đỏ được.
Tháng 09/2019 anh và mẹ anh đi làm thủ tục hợp thức hoá ph n đất đã mua của HTX th n Như Nguyệt là 40m2, đã được UBND huyện Yên Phong cấp iấy CNQSDĐ cho hộ bà Ng Thị B ngày 31/12/2019 là thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 (gọi tắt là thửa số 305), bao gồm cả 120m2 đã bán vợ chồng bà ợi.
Vì gia đình bà ợi gửi đơn tranh chấp đất đai với gia đình anh nên Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong kh ng trả sổ đỏ cho gia đình anh.
Tháng 7/2020 mẹ anh làm thủ tục tặng cho anh quyền sử dụng đất trên, anh đã làm thủ tục bổ sung tại trang 3 của iấy chứng nh n. Vì anh kh ng được c m sổ đỏ nên anh kh ng thể làm thủ tục tách sổ cho bà ợi.
Ngày 22/02/2021 UBND xã Tam Giang có m i anh và bà ợi lên UBND xã Tam Giang để giải quyết tranh chấp đất giữa anh và gia đình bà ợi, nhưng việc thoả thu n kh ng thành.
Ngày 15/4/2021 bà ợi tiếp tục làm lán t n ra trước ph n đất anh đã mua của HTX th n Như Nguyệt từ năm 2005 là 13m2. Anh làm đơn ra xã, xã đã có biên bản dừng thi c ng.
Khoảng tháng 02/2021 anh có vay chị Đào Thị H số tiền 1,5 tỷ đồng, lãi 3.000đ/1 triệu/ 1 ngày mục đích để trang trải c ng nợ (kh ng có giấy vay tiền). Hai bên có thoả thu n anh thế chấp 98m2 trong tổng số 673m2 của thửa đất số 305 để đảm bảo việc vay nợ, hai bên có l p vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại l p tại văn phòng Từ Tâm, th i hạn vay là 1 năm, nếu anh kh ng trả được nợ thì sẽ làm thủ tục chuyển nhượng 98m2 cho chị Hoài.
Vì lãi suất quá cao (anh chưa trả được đồng lãi nào) nên hai bên có thoả thu n anh chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 305, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong cho chị Hoài để chị Hoài đứng tên vay Ngân hàng giúp anh số tiền 1,5 tỷ đồng.
Ngày 30/3/2021 anh và chị Hoài có l p một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong, giá ghi trong hợp đồng là 100.000.000đ. Hợp đồng được l p tại Văn phòng C ng chứng Hoàng Phong. Sau đó chị Hoài kh ng vay Ngân hàng giúp anh số tiền 1,5 tỷ như đã hứa.
Nay anh yêu c u:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 305, t bản đồ 23, diện tích 673,0m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong l p ngày 30/3/2021 giữa anh với chị Đào Thị H, vì: Đây là hợp đồng giả tạo, kh ng có việc chuyển nhượng mà anh chỉ nh chị Hoài đứng tên vay tiền giúp anh 1,5 tỷ đồng để anh trả nợ cho chị Hoài và thửa đất này đang có tranh chấp giữa anh với gia đình bà ợi, ông Hoà từ năm 2019, nhưng anh chưa khởi kiện ra Toà án.
Huỷ iấy chứng nh n quyền sử dụng đất thửa số 305 đã được bổ sung trang 4 tên chị Hoài.
Phía bị đơn là chị Đào Thị H do anh Nguyễn Đình Lâm đại diện trình bày: Ngày 22/02/2021 chị Hoài và anh Nhân có ký xác l p vi bằng do Văn phòng thừa phát lại Ng Xuân Trung địa chỉ: Số 192, Nguyễn ia Thiều, Tiền An, thành phố Bắc Ninh l p tại Văn phòng Từ Tâm. Nội dung anh Nhân bán cho chị Hoài diện tích đất là 198,0m2 đất trong tổng số 673m2 đất của thửa số 305 với giá 2 tỷ đồng. Chị Hoài đã trả cho anh Nhân số tiền 2 tỷ đồng tại Văn phòng m i giới Từ Tâm cùng ngày 22/02/2021.
Sau đó chị Hoài được biết ngày 20/3/2021 anh Nhân có bán cho anh Ngô Quý H 101m2 trong tổng số 673m2 của thửa đất số 305, được thể hiện tại vi bằng l p tại Văn phòng Thừa phát lại Hùng Vương với số tiền 1,5 tỷ đồng.
Do anh Hội kh ng có nhu c u sử dụng, ngày 25/3/2021 anh Hội đã bán lại cho chị Hoài 101m2 với giá 1,6 tỷ đồng, hai bên có giấy mua bán viết tay.
Ngày 30/3/2021 chị Hoài và anh Nhân có l p một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 và toàn bộ tài sản trên đất tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong với giá chuyển nhượng là 5,5 tỷ đồng.
Sau khi đối trừ số tiền chị Hoài đã trả anh Nhân 2 tỷ đồng ngày 22/02/2021, anh Hội trả anh Nhân 1,5 tỷ đồng, chị Hoài còn phải trả cho anh Nhân 2 tỷ đồng vào ngày 30/3/2021. Hợp đồng được l p tại Văn phòng C ng chứng Hoàng Phong, thị trấn Ch , huyện Yên Phong. Chị Hoài đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, ngày 07/4/2021 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong xác nh n tại trang 4 của iấy CNQSDĐ.
Vì gia đình anh Nhân đã bán 120m2 đất trong tổng số 673m2 cho vợ chồng ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị từ năm 2016 nhưng anh Nhân kh ng làm thủ tục tách sổ cho vợ chồng bà ợi. Nên sau khi nh n chuyển nhượng chị Hoài đã làm thủ tục tách trả 120m2 trong tổng số 673m2 cho vợ chồng bà ợi được thể hiện bằng hợp đồng chuyển nhượng. Diện tích chị Hoài còn được sử dụng là 553m2, đã được Sở Tài nguyên và i trư ng tỉnh Bắc Ninh cấp iấy CNQSDĐ cho chị Hoài ngày 04/5/2021 là thửa số 708, t bản đồ 23, diện tích 553m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong (gọi tắt là thửa số 708).
Ngày 05/5/2021 chị Hoài đã chuyển nhượng thửa đất số 708 cho anh Chu Văn V với giá 6 tỷ đồng. Hợp đồng được l p tại Văn phòng C ng chứng inh Tâm. Anh Vân đã trả cho chị Hoài 6 tỷ đồng và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh Vân.
Nay anh Nhân yêu c u Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2021 giữa anh Nhân với chị Hoài là thửa đất số 305; huỷ iấy CNQSDĐ thửa số 305 bổ sung trang 4 tên chị Hoài thì chị Hoài kh ng đồng ý, đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của anh Nhân.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bà Nguyễn Thị L trình bày: Ngày 23/01/2016 khi anh Nhân đang làm trưởng th n Như Nguyệt. Anh Nhân và gia đình gồm mẹ anh Nhân là bà Ng Thị B, vợ là chị Nguyễn Thị đã viết giấy bán cho vợ chồng bà 120m2 đất trong tổng số 633m2 đất của gia đình bà Bé tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang với số tiền 300.000.000đ, hợp đồng có giấy viết tay, kh ng có xác nh n của chính quyền địa phương. Vợ chồng bà đã trả cho anh Nhân số tiền 290.000.000đ, còn 10.000.000đ hai bên thoả thu n khi nào tách sổ đỏ diện tích 120m2 sang tên vợ chồng bà thì sẽ trả nốt.
Sau khi chuyển nhượng, gia đình anh Nhân đã giao đất cho vợ chồng bà ngay, vợ chồng bà nh n đất lu n và làm 01 lán khung sắt lợp t n để làm xưởng mộc từ năm 2016. Sau đó kh ng hiểu lý do vì sao anh Nhân kh ng làm thủ tục tách sổ cho vợ chồng bà, năm nào bà cũng giục thì anh Nhân chỉ nói là chưa làm được.
Năm 2019 anh Nhân xây bức tư ng gạch phía trước thửa đất đã bán cho vợ chồng bà (là đất hành lang, đất c ng). Bà nói với anh Nhân thì anh Nhân nói là anh Nhân mua của Hợp tác xã. Bà đã làm đơn yêu c u UBND xã Tam iang giải quyết.
Ngày 20/12/2019 UBND xã Tam iang đã có biên bản làm việc về việc thoả thu n giữa bà và anh Nhân. Nội dung anh Nhân có trách nhiệm hoàn thành việc tách diện tích 120m2 đã bán cho vợ chồng bà. Vì muốn được tách sổ đỏ diện tích 120m2 nên vợ chồng bà đồng ý sẽ trả thêm cho anh Nhân 200.000.000đ. Ngày 20/12/2019 bà đã trả cho anh Nhân 100.000.000đ và bà đã rút đơn đề nghị đối với anh Nhân.
Năm 2019 UBND huyện Yên Phong đã hợp thức hoá ph n diện tích đất lấn chiếm cho gia đình bà Ng Thị B và cấp iấy CNQSDĐ cho bà Bé được sử dụng là 673m2. Tháng 7/2020 bà Bé đã tặng cho anh Nhân ph n diện tích đất trên.
Sau khi được tặng cho, anh Nhân vẫn kh ng làm thủ tục tách 120m2 cho vợ chồng bà. Bà yêu c u nhiều l n nhưng anh Nhân vẫn kh ng thực hiện và có ý định đòi thêm 100.000.000đ nữa, nhưng bà kh ng đồng ý.
Tháng 3/2021 vợ chồng bà biết anh Nhân có làm thủ tục chuyển nhượng 673m2 đất cho chị Đào Thị H. Bà có lên xã yêu c u và UBND xã Tam iang đã yêu c u chị Hoài tách trả vợ chồng bà 120m2 và chị Hoài đã thực hiện, vợ chồng bà đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, đã được Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bắc Ninh cấp iấy CNQSDĐ cho vợ chồng bà ngày 04/5/2021 là thửa số 709, t bản đồ 23, diện tích 120m2 (gọi tắt là thửa số 709).
Việc chuyển nhượng giữa gia đình anh Nhân với vợ chồng bà đã thực hiện xong từ tháng 01/2016, vợ chồng bà đã thanh toán xong tiền cho anh Nhân và đã nh n đất từ tháng 01/2016, hai bên kh ng còn vướng mắc gì với nhau nữa.
Nay anh Nhân yêu c u huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nhân với chị Hoài là thửa đất 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong thì bà kh ng đồng ý, bà đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của anh Nhân.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Anh Chu Văn Th trình bày: Ngày 07/6/2021 anh và anh Chu Văn V đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 708, t bản đồ 23, diện tích 553m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong. Nội dung anh Vân bán cho anh thửa đất số 708 và toàn bộ tài sản trên đất, giá ghi trong hợp đồng là 100.000.000đ, giá chuyển nhượng thực tế là 7 tỷ đồng. Hợp đồng được l p tại Văn phòng C ng chứng inh Tâm, thị trấn Ch , huyện Yên Phong. Anh đã trả cho anh Vân đủ 7 tỷ đồng.
Vì tài sản trên đất chưa được đăng ký quyền sở hữu nên hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi quyền sử dụng đất theo iấy CNQSDĐ. Anh đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, ngày 11/6/2021 Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong xác nh n tại trang 4 của iấy chứng nh n.
Sau khi nh n chuyển nhượng, anh thấy anh Đỗ Văn Nh vẫn đang sử dụng thửa đất trên, anh có nói chuyện với anh Nhân thì anh Nhân nói cho anh Nhân bán bia nốt 1 tháng, hết tháng 6/2021 thì sẽ trả nhà đất cho anh.
Ngày 17/6/2021 anh có thế chấp thửa đất số 708 để vay Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) số tiền 4,5 tỷ đồng, cụ thể: món vay 3 tỷ th i hạn vay là 30 năm, món vay 1,5 tỷ th i hạn vay là 9 năm.
Đ u tháng 9/2021 anh yêu c u anh Nhân phải dọn đồ đạc đi để trả nhà đất cho anh. Ngày 04/9/2021 gia đình anh Nhân tự nguyện dọn đồ đạc mang đi. Sau đó anh đã phá dỡ ng i nhà cấp 4, bếp và c ng trình phụ, 01 lán t n để lấy mặt bằng kinh doanh. Hiện nay anh đang quản lý và sử dụng thửa đất trên.
Ngày 13/8/2021 anh gửi đơn yêu c u độc l p, yêu c u anh Nhân phải trả lại anh thửa đất số 708, t bản đồ 23, diện tích 553m2 tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong. Tháng 10/2021 anh có đơn xin rút yêu c u trên. Tại phiên toà h m nay anh vẫn rút yêu c u độc l p, kh ng yêu c u Toà án giải quyết.
Nay anh Nhân yêu c u huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2021 giữa anh Nhân và chị Hoài là thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong thì anh kh ng đồng ý, vì anh bỏ tiền ra mua hợp pháp, anh đã làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh từ ngày 11/6/2021. Ngày 17/6/2021 anh đã thế chấp thửa đất trên để vay Ngân hàng Quốc tế số tiền 4,5 tỷ đồng, đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của anh Nhân.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Công chứng Hoàng Phong do bà Ngô Thị T đại diện trình bày: Ngày 30/3/2021 anh Đỗ Văn Nh đến Văn phòng c ng chứng Hoàng Phong yêu c u c ng chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo iấy CNQSDĐ số CQ 347927 do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 31/12/2019 mang tên chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là hộ bà Ng Thị B. Ngày 06/8/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong xác nh n tặng cho anh Đỗ Văn Nh là thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong.
Sau khi kiểm tra đ y đủ giấy t và xác định hồ sơ đủ điều kiện c ng chứng, c ng chứng viên tiến hành thực hiện việc c ng chứng theo quy định của pháp lu t giữa bên chuyển nhượng là anh Đỗ Văn Nh và bên nh n chuyển nhượng là chị Đào Thị H. Hai bên thoả thu n giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 100.000.000đ, việc giao nh n tiền do hai bên tự chịu trách nhiệm và kh ng giao nh n tại trụ sở Văn phòng c ng chứng Hoàng Phong vào th i điểm ký kết hợp đồng. Việc c ng chứng được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t, theo sự thoả thu n và theo yêu c u của hai bên.
Anh Đỗ Văn Nh yêu c u huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nhân và chị Hoài là thửa đất số 305 ngày 30/3/2021 là kh ng có căn cứ. Văn phòng c ng chứng Hoàng Phong đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt trong các buổi làm việc và xét xử.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam do ông Nguyễn Minh Hải (tại giai đoạn xét xử phúc thẩm là ông Lê Xuân Hoàng Dương) đại diện trình bày: Ngân hàng T CP Quốc tế Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng, Phòng giao dịch ò Đúc ký hợp đồng cấp tín dụng cho anh Chu Văn Th cụ thể như sau:
Hợp đồng tín dụng số 5332374.21 ngày 17/6/2021: số tiền vay 3 tỷ đồng, mục đích vay: nh n chuyển nhượng bất động sản, th i hạn vay 360 tháng, lãi suất 12,5%/năm. Ngày 21/6/2021 Ngân hàng đã giải ngân số tiền 3 tỷ đồng cho anh Thái; Hợp đồng tín dụng số 6015494.21 ngày 17/6/2021: số tiền vay 1,5 tỷ đồng, mục đích vay: tiêu dùng mua sắm trang thiết bị, th i hạn vay 96 tháng, lãi suất 12,3%/năm. Ngày 22/6/2021 Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1,5 tỷ đồng cho anh Thái; Hợp đồng tín dụng số 9127061.21 ngày 02/3/2021: số tiền vay 680.000.000đ, mục đích vay: mua xe t , th i hạn vay 60 tháng, lãi suất 8,9%/năm. Ngày 02/3/2021 Ngân hàng đã giải ngân số tiền 680.000.000đ cho anh Thái.
Ngày 24/6/2021 anh Thái đã đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng là 150.000.000đ.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 708, t bản đồ 23, diện tích 553m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong do Sở Tài Nguyên và i trư ng cấp ngày 04/5/2021 tên chị Đào Thị H. Ngày 11/6/2021 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong đăng ký chuyển nhượng cho anh Chu Văn Th.
Tạm tính đến ngày 22/12/2021 anh Thái đã trả được cụ thể: Số tiền gốc là 151.218.000đ, tiền lãi trong hạn là 172.043.323đ, lãi quá hạn là 559.677đ. Tổng cộng là 323.821.000đ.
Nay Ngân hàng yêu c u anh Thái phải trả toàn bộ khoản nợ, cụ thể: Nợ gốc là 5.178.681.001đ, lãi trong hạn là 62.495.898đ, lãi quá hạn là 135.001.903đ, nợ phí là 7.463.680đ. Tổng cộng là 5.406.148.263đ.
Nếu anh Thái kh ng trả hết nợ cho Ngân hàng T CP Quốc tế Việt Nam thì Ngân hàng có quyền tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu c u cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm đã nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Thế Ph do ông Vũ Văn Nghiệm đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ông Đỗ Thế Ph đi bộ đội từ năm 1967. Năm 1971 ng Phiệt kết h n với bà Ng Thị B, có đăng ký kết h n tại UBND xã Tam iang và sinh được 2 con là Đỗ Văn Nh, sinh năm 1976 và Đỗ Văn , sinh năm 1979.
Nguồn gốc thửa đất diện tích 633m2 tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong là do Hợp tác xã th n Như Nguyệt cấp cho vợ chồng ng Phiệt, bà Bé từ năm 1976. Sau khi được cấp đất ng Phiệt vẫn đi bộ đội, bà Bé ở nhà. Sau khi chuyển ngành thì ng Phiệt về sinh sống tại: Khu phố 1, phư ng Phú Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá và chung sống như vợ chồng với bà Bùi Thị Cớt, sinh năm 1935 và có 2 con chung với bà Cớt là Đỗ Thị Nghĩa, sinh năm 1976 và Đỗ Thị Ngân, sinh năm 1979.
Năm 1994-1995 vợ chồng ng Phiệt, bà Bé làm 4 gian gồm: 3 gian nhà ngói, 01 gian buồng đổ tr n trên đất. Sau đó ng Phiệt vẫn đi lại giữa Bắc Ninh và Bỉm Sơn với 2 bà.
Năm 2001 UBND huyện Yên Phong đã cấp iấy CNQSDĐ cho hộ bà Ngô Thị B diện tích 633m2 là thửa đất kh ng số, t bản đồ 03. Th i điểm cấp iấy CNQSDĐ ng Phiệt vẫn ở trong Bỉm Sơn, Thanh Hoá. Ông Phiệt kh ng có ý kiến gì về việc cấp iấy CNQSDĐ cho hộ bà Bé.
Việc mẹ con bà Bé ở nhà bán 120m2 đất trong tổng số diện tích 633m2 đất cho vợ chồng bà Nguyễn Thị , ông Đỗ Văn H thì ng Phiệt kh ng biết vì ng Phiệt đang sống ở Bỉm Sơn, Thanh Hoá.
Việc UBND huyện Yên Phong đã hợp thức hoá ph n diện tích đất lấn chiếm là 40m2 và cấp iấy CNQSDĐ diện tích 673m2 tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong thì ông Phiệt cũng kh ng biết vì ng Phiệt vẫn sinh sống ở Bỉm Sơn, Thanh Hoá.
Ngày 16/7/2020 bà Ng Thị B cùng các con cháu làm hợp đồng tặng cho thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong cho anh Đỗ Văn Nh thì ông Phiệt cũng kh ng biết. Tháng 9/2021 ng Phiệt mới biết.
Quá trình giải quyết vụ án ng Phiệt yêu c u: Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 giữa gia đình bà Bé với anh Nhân v hiệu. Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020; Hủy iấy CNQSDĐ do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 31/12/2019, bổ sung trang 3 cho anh Đỗ Văn Nh ngày 06/8/2020. Vì lý do thửa đất trên là của vợ chồng ng Phiệt, bà Bé. ia đình bà Bé đã tự ý tặng cho anh Nhân mà kh ng hỏi ý kiến của ng Phiệt.
Tại phiên toà h m nay đại diện theo uỷ quyền của ng Phiệt ngoài yêu c u trên còn yêu c u Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị B trình bày: Năm 1971 bà lấy ng Đỗ Thế Ph và sinh được 2 con là Đỗ Văn Nh và Đỗ Văn . Năm 1974 Hợp tác xã th n Như Nguyệt cấp cho vợ chồng bà thửa đất diện tích 12 thước tại th n Như Nguyệt. Năm 1976 ng Phiệt bỏ vào Bỉm Sơn, Thanh Hoá và chung sống như vợ chồng với bà vợ hai cho đến nay, thỉnh thoảng ng có về nhà mỗi khi gia đình có việc rồi lại đi. Cũng trong năm 1976 bà làm 04 gian nhà ngói để mấy mẹ con ở, th i gian này ng Phiệt đã bỏ đi.
Năm 1994 bà đã phá 4 gian nhà ngói, xây 3 gian nhà gỗ và 01 gian đổ tr n. Năm 1998 anh Nhân lấy vợ, vợ chồng anh Nhân sống cùng bà tại thửa đất này.
Sau đó bà tân tạo, mua thêm của HTX và đổi ruộng được khoảng hơn 300m2, năm 2001 bà được UBND huyện Yên Phong iấy CNQSDĐ diện tích 633m2.
Năm 2016 bà bán cho vợ chồng bà Nguyễn Thị , ông Đỗ Văn H là hàng xóm 120m2 đất trong tổng số 633m2 với số tiền 300.000.000đ để anh Nhân trang trải c ng nợ, hợp đồng có giấy viết tay, kh ng có xác nh n của chính quyền địa phương. Bà ợi đã trả cho bà số tiền 290.000.000đ, bà đã giao đất cho vợ chồng bà ợi ngay, vợ chồng bà ợi đã làm lán xưởng để làm mộc.
Năm 2019 UBND huyện Yên Phong đã hợp thức hoá ph n diện tích đất lấn chiếm cho bà, tổng diện tích bà được sử dụng là 673m2. Năm 2020 bà đã tặng cho con trai lớn là Đỗ Văn Nh thửa đất trên. Sau đó anh Nhân chuyển nhượng cho ai thì bà kh ng biết.
Nay anh Nhân yêu c u Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2021 giữa anh Nhân với chị Hoài là thửa đất số 305; huỷ iấy CNQSDĐ thửa số 305 bổ sung trang 4 tên chị Hoài thì bà đồng ý.
Ông Phiệt yêu c u: Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 giữa gia đình bà với anh Nhân v hiệu; Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020; Hủy iấy CNQSDĐ do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 31/12/2019, bổ sung trang 3 cho anh Nhân ngày 06/8/2020 thì bà đồng ý và đề nghị giải quyết theo pháp lu t.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn L trình bày: Anh ễ trình bày bố anh tên là Đỗ Thế Ph, mẹ anh tên là Ng Thị B sinh được 2 anh em là Đỗ Văn Nh và anh.
Bố anh đi bộ đội đóng quân ở Thanh Hoá và lấy bà vợ hai ở Thanh Hoá từ năm nào anh kh ng biết, hiện nay bố anh vẫn đang sinh sống ở Bỉm Sơn, Thanh Hoá, thỉnh thoảng bố anh mới về quê ở Tam iang.
Năm 2007 anh lấy vợ ở Uy Nỗ, Đ ng Anh và sống tại Uy Nỗ, Đ ng Anh từ năm 2007 cho đến nay, anh cắt khẩu về Uy Nỗ, Đ ng Anh từ năm nào anh cũng kh ng biết. Hiện nay anh là nhân viên giao nh n hàng hoá của C ng ty tư nhân chuyển phát nhanh ở Hà Nội.
Nguồn gốc thửa đất tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong diện tích bao nhiêu anh cũng kh ng nắm được là các cụ để lại cho bố mẹ anh. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 gian lợp ngói, 01 gian đổ tr n do bố mẹ anh xây từ năm 1994-1995. Thửa đất đã được cấp sổ đỏ hay chưa anh cũng kh ng biết.
Toà án đã cho anh xem “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đề ngày 16/7/2020 thì anh khẳng định dấu vân tay và chữ ký ễ, Đỗ Văn ở mục Bên A đúng là của anh do đồng chí cán bộ địa chính xã Tam iang bảo anh ký và điểm chỉ thì anh ký và điểm chỉ để sang quyền sử dụng đất cho anh nên anh ký, anh kh ng đọc nội dung vì anh kh ng biết chữ, anh học hết lớp 3.
Nay bố anh yêu c u: Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 giữa gia đình anh với anh Nhân v hiệu; Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020 và hủy iấy CNQSDĐ do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 31/12/2019, bổ sung trang 3 cho anh Nhân ngày 06/8/2020 thì anh đề nghị Toà án giải quyết theo pháp lu t.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Uỷ ban nhân dân xã Tam Giang do ông Kiều Văn H đại diện trình bày: Nguồn gốc thửa đất không số, t bản đồ 03, diện tích 633m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong là do HTX th n Như Nguyệt cấp cho hộ bà Ng Thị B để làm đất ở. Đã được UBND huyện Yên Phong cấp iấy CNQSDĐ cho hộ bà Ng Thị B ngày 23/02/2001.
Sau khi sử dụng hộ gia đình bà Bé đã tự ý lấn chiếm đất của t p thể về hướng Tây từ năm 2000-2001. Năm 2002 khi Nhà nước đo đạc bản đồ địa chính chính quy thì ph n diện tích của gia đình bà Bé đã tăng lên 40m2. Việc lấn chiếm sử dụng từ trước ngày 01/7/2004 phù hợp với quy hoạch, kh ng có tranh chấp thì sẽ được cấp iấy CNQSDĐ theo quy định của pháp lu t.
Năm 2019 hộ gia đình bà Bé có đề nghị UBND xã Tam iang hướng dẫn làm hồ sơ cấp bổ sung thêm ph n diện tích đã lấn chiếm vào iấy CNQSDĐ. UBND xã Tam iang thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định, đã được UBND huyện Yên Phong cấp iấy CNQSDĐ cho hộ bà Ng Thị B ngày 31/12/2019 là thửa số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2.
Ngày 16/07/2020 UBND xã Tam iang nh n được đề nghị về việc tặng cho quyền sử dụng đất thửa số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong của gia đình bà Bé.
Sau khi xem xét hồ sơ UBND xã Tam Giang thấy iấy CNQSDĐ do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 23/02/2001, th i điểm này thành viên trong hộ gia đình bà Ng Thị B gồm có: Anh Đỗ Văn Nh, anh Đỗ Văn , chị Nguyễn Thị và 3 con của anh Nhân, chị uyện.
Quá trình thực hiện cấp iấy CNQSDĐ l n thứ hai, khi cấp thêm ph n diện tích lấn chiếm 40m2, tổng diện tích là 673m2. UBND xã Tam Giang có làm thủ tục cho niêm yết công khai tại th n Như Nguyệt và tại UBND xã Tam iang. Trong quá trình niêm yết kh ng có cá nhân nào trong hộ hay ngoài hộ gia đình bà Bé có ý kiến về việc cấp iấy CNQSDĐ cho hộ bà Ng Thị B. Các thành viên hộ đều nhất trí ký vào hợp đồng tặng cho ngày 16/07/2020. Xét thấy hồ sơ tặng cho giữa hộ gia đình bà Ng Thị B và anh Đỗ Văn Nh là đúng trình tự theo quy định của pháp lu t, nên khi thực hiện đăng ký biến động đã được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và sang tên cho anh Đỗ Văn Nh.
Việc ng Đỗ Thế Ph yêu c u hủy hợp đồng tặng cho do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020 là kh ng có căn cứ, bởi lẽ ng Phiệt đã đi khỏi địa phương, không có mặt tại địa phương và kh ng sử dụng đất từ trước năm 1980 cho đến nay. Đề nghị Tòa án bác yêu c u của ng Phiệt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn Đ trình bày: Bố anh là Đỗ Văn Nh, mẹ anh là Nguyễn Thị sinh được 3 ngư i con, anh là con lớn. Nguồn gốc thửa đất tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong như thế nào anh kh ng biết, khi anh sinh ra đã có rồi, được cấp sổ đỏ năm nào anh cũng kh ng biết. Ngày 16/7/2020 anh có ký văn bản để tách sổ cho các thành viên trong gia đình, anh kh ng đọc nên kh ng biết nội dung.
Nay ng Phiệt yêu c u huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020 và hủy iấy CNQSDĐ do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 31/12/2019, bổ sung trang 3 cho bố anh ngày 06/8/2020 thì anh đồng ý.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Thị Thanh H trình bày: Bố chị là Đỗ Văn Nh, mẹ anh là Nguyễn Thị sinh được 3 ngư i con, chị là con thứ hai. Nguồn gốc thửa đất tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong chị kh ng biết. Ngày 16/7/2020 chị có ký văn bản để tách sổ cho các thành viên trong gia đình, chị kh ng đọc nên kh ng biết nội dung.
Nay ng Phiệt yêu c u huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam Giang l p ngày 16/7/2020 và hủy iấy CNQSDĐ do UBND huyện Yên Phong cấp ngày 31/12/2019, bổ sung trang 3 cho bố chị là Đỗ Văn Nh ngày 06/8/2020 thì chị đồng ý.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Ngô Quý H trình bày: Ngày 20/3/2021 anh và anh Đỗ Văn Nh có xác l p vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại Hùng Vương, địa chỉ: Số 32, ngõ 6, khu phố Tr n Phú, phư ng Đ ng Ngàn, thị xã Từ Sơn l p tại Văn phòng Từ Tâm, th n Nguyệt C u, xã Tam iang. Nội dung anh Đỗ Văn Nh bán cho anh thửa đất diện tích 101m2 trong tổng số 673m2 của thửa đất số 305 với số tiền 1,5 tỷ đồng. Vì anh Nhân chưa tách được sổ nên hai bên chưa l p hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C ng chứng.
Do kh ng có nhu c u sử dụng nên ngày 25/3/2021 anh bán diện tích 101m2 đã mua của anh Nhân cho chị Đào Thị H với số tiền 1,6 tỷ đồng, hai bên có l p giấy viết tay. Sau đó giữa chị Hoài với anh Nhân có l p hợp đồng mua bán, chuyển nhượng với nhau như thế nào anh kh ng biết. Việc mua bán 101m2 đất giữa anh với chị Hoài đã thanh toán với nhau xong, hai bên kh ng còn vướng mắc gì với nhau nữa, anh kh ng còn liên quan gì đến vụ kiện này, anh từ chối tham gia tố tụng, anh đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Chu Văn V trình bày: Ngày 05/5/2021 anh và chị Đào Thị H đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 708, t bản đồ 23, diện tích 553m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong. Nội dung chị Hoài bán cho anh thửa đất số 708 và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 ng i nhà ngói 3 gian và 01 gian tr n; tư ng bao quanh; 01 lán khung sắt lợp t n; sân bê t ng và cây cối trên đất tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong với giá 6 tỷ đồng. Hợp đồng được l p tại Văn phòng C ng chứng inh Tâm, thị trấn Ch , huyện Yên Phong. Anh đã trả cho chị Hoài đủ 6 tỷ đồng và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh tại trang 3 của iấy CNQSDĐ.
Do anh mua để kinh doanh, tháng 6/2021 anh đã chuyển nhượng thửa đất số 708 cho anh Chu Văn Th với giá 7 tỷ đồng. Hợp đồng được l p tại Văn phòng C ng chứng inh Tâm. Anh Thái đã trả cho anh đủ 7 tỷ đồng và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh Thái. Việc chuyển nhượng giữa chị Hoài với anh và giữa anh với anh Thái đã xong, hai bên kh ng còn vướng mắc gì với nhau nữa, anh kh ng còn liên quan gì đến vụ kiện này, anh từ chối tham gia tố tụng, anh đề nghị xét xử vắng mặt.
Với nội dung như trên bản án sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 21/2/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã căn cứ điều 116, 117, 119, 133, 500, 501, 502, 503 Bộ lu t dân sự năm 2015; Điều 167 u t đất đai năm 2013; Điều 235, 264, 266, 147, 157, 165, 244 Bộ lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
1. Đình chỉ yêu c u độc l p của anh Chu Văn Th yêu c u anh Đỗ Văn Nh phải trả thửa đất số 708, t bản đồ 23, diện tích 553m2 tại thôn Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
2. Kh ng chấp nh n yêu c u khởi kiện của anh Đỗ Văn Nh yêu c u Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2021 giữa anh Đỗ Văn Nh với chị Đào Thị H là thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; yêu c u huỷ huỷ iấy chứng nh n quyền sử dụng đất thửa đất sổ 305, bổ sung trang 4 cho chị Hoài.
3. Kh ng chấp nh n yêu c u của ng Đỗ Thế Ph yêu c u tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 giữa gia đình bà Ng Thị B với anh Đỗ Văn Nh là thửa đất số 305, t bản đồ 23, diện tích 673m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong v hiệu; yêu c u huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020 và huỷ iấy chứng nh n quyền sử dụng đất thửa đất số 305, bổ sung trang 3 cho anh Nhân.
4. Tách yêu c u của Ngân hàng T CP Quốc tế Việt Nam sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác nếu có yêu c u.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp lu t.
Ngày 04/3/2022 bị đơn là anh Đỗ Văn Nh có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm; Ngày 07/3/2022 ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ng Đỗ Thế Ph có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 21/3/2022 Viện Trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong có quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS đối với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu c u khởi kiện, yêu c u kháng cáo; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định kháng nghị.
Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày quan điểm tranh lu n: Lu t sư đồng tình với quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; Nội dung vụ án: Hợp đồng chuyển nhượng giữa gia đình bà bé và bà ợi đối với 120m2 là bị v hiệu vì kh ng có ý kiến của ng Phiệt khi chuyển nhượng đất; Hợp đồng giữa bà Bé và các thành viên trong gia đình cho anh Nhân cũng bị v hiệu vì chưa có đủ ý kiến của các thành viên tronng hộ gia đình về việc cho anh Nhân quyền sử dụng đất; Có 02 hợp đồng vi bằng giữa anh nhân với chị hoài và anh Nhân với anh Hội nội dung vi bằng là vi phạm quy định của pháp lu t và đều bị v hiệu; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nhân và chị Hoài là kh ng có th t vì anh Nhân kh ng biết chị Hoài là ai, anh Nhân khi thực hiện việc chuyển nhượng kh ng giữ sổ đỏ mà anh Hưng giữ, do anh Nhân có nợ với anh Hưng nên anh Hưng đã buộc anh Nhân phải l p hợp đồng chuyển nhượng đất cho chị Hoài để chị Hoài làm thủ tục vay tiền trả cho anh Hưng; Trong khi chị Hoài nh n chuyển nhượng cả 673m2 nhưng sau đó lại làm thủ tục tặng cho bà ợi 120m2 trong khi bà ợi và chị hoài kh ng quen biết gì nhau, trước đó anh Nhân, bà Bé đã chuyển nhượng 120m2 cho bà ợi nhưng sau đó lại bán cả thửa đất cho chị Hoài việc này là v lý vì kh ng ai tự đặt mình vào chỗ bất lợi; chị Hoài kh ng có bất k tài liệu nào chứng minh việc chị Hoài giao tiền cho anh Nhân khi chuyển nhượng, số tiền nh n chuyển nhượng là 5,5 tỷ đồng; khi chuyển nhượng tại phiên tòa sơ thẩm anh Nhân, bà ợi, chị Hoài đều xác định là khi chuyển nhượng kh ng có việc giao tiền. Do có nhiều vi phạm về tố tụng và nội dung nên đề nghị Hội đồng xét xử, hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp lu t tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp lu t của ngư i tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến ph n tranh lu n tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp lu t. Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308, 310 Bộ lu t tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh lu n tại phiên toà, Hội đồng xét xử nh n định:
Kháng cáo của anh Đỗ Văn Nh, ông Đỗ Thế Ph được nộp trong hạn lu t định là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nh n xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm. Quyết định kháng nghị của Viện Trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành trong th i hạn lu t định nên là quyết định kháng nghị hợp lệ được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo của các đương sự và quyết định kháng nghị:
Thứ nhất, theo đơn khởi kiện của ng Đỗ Thế Ph ngày 27/9/2021 gửi đến Tòa án nh n ngày 06/10/2021 có yêu c u Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Ng Thị B cùng những ngư i có tên trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 được UBND xã Tam iang chứng thực là v hiệu. Đề nghị tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên và hủy giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số CQ347927 ngày 31/12/2019 cấp cho anh Đỗ Văn Nh ngày 06/8/2020 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Theo bản tự khai ngày 17/11/2021 của ng Đỗ Thế Ph thì ngoài các yêu c u khởi kiện đã nêu trong đơn khởi kiện thì ng Phiệt còn có yêu c u tuyên bố giao dịch chuyển nhượng viết tay vào năm 2016 giữa gia đình bà Ngô Thị B với bà Nguyễn Thị đối với diện tích 120m đất thuộc diện tích thửa đất 633m có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số R516788 ngày 23/02/2001 mang tên hộ bà Ng Thị B là v hiệu. Tại biên bản hòa giải ngày 29/11/2021 và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp c n, c ng khai chứng cứ cùng ngày 29/11/2021 đại diện theo ủy quyền của ng Phiệt có các yêu c u: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Ng Thị B cùng những ngư i có tên trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 được UBND xã Tam iang chứng thực là v hiệu; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020; Hủy giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số CQ347927 ngày 31/12/2019 cấp cho anh Đỗ Văn Nh ngày 06/8/2020 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 120m2 tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong, Bắc Ninh giữa mẹ con bà Bé với vợ chồng bà Nguyễn Thị , ng Đỗ Văn Hòa đề ngày 23/01/2016 vì lý do hợp đồng chuyển nhượng viết tay, kh ng có ý kiến của ng Phiệt. ặc dù trong bản tự khai nêu trên của ng Phiệt có thêm yêu c u khởi kiện nhưng Tòa án cấp sơ thẩm kh ng yêu c u ng Phiệt làm đơn khởi kiện bổ sung để xem xét thụ lý. Tại phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp c n, c ng khai chứng cứ ng Phiệt tiếp tục có yêu c u khởi kiện bổ sung như bản tự khai nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn kh ng xem xét thụ lý giải quyết. Bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm cũng kh ng nh n định xem xét về yêu c u Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 120m tại Như Nguyệt, Tam iang, Yên Phong, Bắc Ninh giữa mẹ con bà Bé với vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ng Dỗ Văn Hòa đề ngày 23/01/2016 của ng Phiệt. Như v y, Tòa án cấp sơ thẩm kh ng xem xét giải quyết đối với yêu c u khởi kiện bổ sung so với đơn khởi kiện của ng Phiệt là vi phạm Điều 4, 5, Điều 220 của Bộ lu t tố tụng dân sự ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ng Phiệt.
Thứ hai, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án cấp sơ thẩm không giải thích cho đương sự về quyền yêu c u giải quyết h u quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng v hiệu là vi phạm Điều 131 Bộ lu t dân sự và giải đáp số 01/2017/ Đ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao. Theo đơn khởi kiện, anh Đỗ Văn Nh có yêu c u khởi kiện hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/3/2021 giữa anh và chị Đào Thị H; Theo đơn khởi kiện của ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ng Đỗ Văn Phiệt có yêu c u tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020, giữa gia đình bà Ng Thị B với anh Đỗ Văn Nh bị v hiệu. Theo đơn khi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Nhân và ng Phiệt kh ng có yêu c u về giải quyết h u quả khi giao dịch bị tuyên v hiệu. Tuy nhiên, Tòa án cũng kh ng giải thích cho các đương sự về h u quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng v hiệu và ghi nội dung giải thích này vào biên bản để lưu vào hồ sơ là vi phạm về tố tụng.
Thứ ba, ông Phiệt có khởi kiện yêu c u Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Ng Thị B cùng những ngư i có tên trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/7/2020 được UBND xã Tam iang chứng thực là vô hiệu, Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do UBND xã Tam iang l p ngày 16/7/2020). Bản án đã nh n định “Ngày 23/01/2001 UBND huyện Yên Phong cấp CNQSDĐ cho hộ bà Ng Thị B là thừa đất kh ng số, t bản đồ số 03, diện tích 633m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang huyện Yên Phong. Th i điểm này ông Phiệt kh ng có mặt tại địa phương kh ng sử dụng đất, chưa làm thủ tục nh p hộ khẩu vào hộ gia đình bà Bé nên kh ng thuộc thành ph n được cấp CNQSDĐ”, đồng th i Bản án đã xem xét nh n định hợp đồng tặng cho tuân thủ các điều kiện theo pháp lu t nên kh ng chấp nh n yêu c u hủy hợp đồng tặng cho của ng Phiệt. Tuy nhiên, sau đó Bản án lại nh n định “Đối với giao dịch chuyển nhượng ngày 23/01/2016 giữa gia đình bà Bé với vợ chồng bà ợi với số tiền 300.000.000đ và giao dịch ngày 30/3/2021 giữa anh Nhân với chị Hoài với số tiền 5,5 tỷ đồng nếu ông Phiệt thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng ng Phiệt có quyền khởi kiện đòi những ngư i có tên trong hộ khẩu của gia đình bà Bé giá trị tài sản của mình được hưởng và được xem xét giải quyết trong vụ án khác nếu có yêu c u theo quy định tại Điều 133 của Bộ lu t dân sự năm 2015”. Như v y, Bản án sơ thẩm đã xác định ng Phiệt kh ng thuộc thành ph n cấp CNQSDĐ thì kh ng phải là chủ thể có quyền sử dụng đất nên hợp đồng tặng cho kh ng có chữ ký của ng Phiệt vẫn đảm bảo đúng pháp lu t, nhưng đồng th i lại xác định ng Phiệt có quyền khởi kiện đòi những ngư i có tên trong hộ khẩu của gia đình bà Bé giá trị tài sản của mình được hưởng nếu thấy quyền lợi của mình được hưởng là có sự mâu thuẫn. Trong khi các đương sự và chính quyền địa phương đều xác nh n về nguồn gốc thừa đất kh ng số, t bản đồ 03, diện tích 633m2 tại th n Như Nguyệt, xã Tam iang, huyện Yên Phong là do HTX th n Như Nguyệt cấp cho hộ bà Ng Thị B năm 1976. Bà Bé và ng Phiệt kết h n năm 1971. Th i điểm cấp đất có vợ chồng bà Bé và ng Phiệt nên nguồn gốc thửa đất được xác định cấp cho bà Bé và ng Phiệt. Năm 2000, thực hiện chủ trương về việc đăng ký quyền sử dụng đất khi đó ông Phiệt đang sinh sống tại Bỉm Sơn, Thanh Hóa kh ng có hộ khẩu trong hộ bà Bé nên bà Bé đứng tên chủ hộ gia đình làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Khi đăng ký kê khai trong đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thì bà Bé đã ghi nội dung đồng sử dụng đất có chồng là ng Đỗ Văn Phiệt, về nguồn gốc đất ghi năm 1976 HTX giao B 552. Từ khi được cấp đất năm 1976 đến nay, ng Phiệt và bà Bé vẫn tồn tại quan hệ h n nhân hợp pháp, cũng chưa có bản án, quyết định nào giải quyết về tài sản chung là thửa đất số 03 có diện tích 633m2 giữa bà Bé và ng Phiệt. Với những cơ sở nêu trên có cơ sở để xác định mặc dù tại th i điểm cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất năm 2001 ng Phiệt kh ng có tên trong hộ gia đình bà Bé nhưng ng Phiệt vẫn có quyền đối với thửa đất số 03. Do đó, việc bà Bé và những ngư i có tên trong trong hợp động tặng cho quyền sử dụng đất tặng cho anh Nhân quyền sử dụng thửa đất là vi phạm quyền lợi của ng Phiệt, hợp đồng tặng cho cũng có vi phạm do thiếu chủ thể có quyền sử dụng đất tham gia ký kết nên yêu c u khởi kiện hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa của ng Phiệt là có cơ sở để chấp nh n. Bản án sơ thẩm quyết định bác yêu c u hủy hợp đồng tặng cho của ng Phiệt là kh ng đảm bảo quyền lợi của đương sự.
Thứ tư, ngày 13/9/2021 Ngân hàng thương mại cổ ph n Quốc Tế Việt Nam có đơn yêu c u độc l p gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm. Trong quá trình tham gia tố tụng phía Ngân hàng giữ nguyên yêu c u độc l p đề nghị Tòa án buộc anh Chu Văn Th phải trả toàn bộ khoản nợ, cụ thể: Nợ gốc là 5.178.681.001đ, lãi trong hạn là 62.495.898đ, lãi quá hạn là 135.001.903đ, nợ phí là 7.463.680đ. Tổng cộng là 5.406.148.263đ. Nếu anh Thái kh ng trả hết nợ cho Ngân hàng T CP Quốc tế Việt Nam thì Ngân hàng có quyền tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu c u cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm đã nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trong khi tài sản mà Ngân hàng yêu c u được kê biên, phát mại để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay là đối tượng tranh chấp trong vụ án. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm kh ng tiến hành thụ lý yêu c u độc l p của Ngân hàng để cùng giải quyết trong vụ án này là chưa triệt để. Việc kh ng thụ lý yêu c u độc l p của Ngân hàng là đã vi phạm quy định tại Điều 4, 5 Bộ lu t tố tụng dân sự.
Trong khi Tòa án cấp sơ thẩm kh ng thụ lý yêu c u độc l p của Ngân hàng, nhưng tại ph n quyết định của bản án sơ thẩm lại quyết định “4. Tách yêu c u của Ngân hàng T CP Quốc tế Việt Nam sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác nếu có yêu c u”. Việc quyết định tách vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm trong vụ án này là kh ng đúng với quy định tại Điều 42 Bộ lu t tố tụng dân sự.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xác định do bản án sơ thẩm đã có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và ph n quyết định nội dung vụ án, những vi phạm này Hội đồng xét xử phúc thẩm kh ng thể khắc phục được. Do đó, c n chấp nh n kháng cáo của anh Đỗ Văn Nh, ông Đỗ Thế Ph và quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết lại theo trình tự thủ tục sơ thẩm.
Anh Đỗ Văn Nh và ông Đỗ Thế Ph kh ng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 148; khoản 3 Điều 308, 310 của Bộ lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2022/DS-ST ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm và chi phí tố tụng khác:
Anh Đỗ Văn Nh, ông Đỗ Thế Ph kh ng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh Nhân 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004235 ngày 08/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được quyết định khi Tòa án nhân dân huyện Yên Phong giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND huyện Yên Phong; - Chi cục THADS huyện Yên Phong; - ưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Nguyễn Văn Nam |