vanban.org

Bản án 51/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn Th đòi ông Ngô Văn V bồi thường thiệt hại tài sản 20.

Ông Th được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Th phải chịu chi phí tố tụng 1.000.000 (một triệu đồng), đã nộp xong.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Ông Trương Văn Th tranh chấp về bồi thường thiệt hại tài sản với Ông Ngô Văn V"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn Th đòi ông Ngô Văn V bồi thường thiệt hại tài sản 20.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 51/2022/DS-ST
Ngày: 24-03-2022
V/v Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Phùng

Ông Trương Thanh Nhàn

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài là Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 18/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2021 về việc Tranh chấp về bồi thường thiệt hại tài sản.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXX ST - DS ngày 11 tháng 2 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Văn Th, sinh năm 1961 nơi cư trú: Tổ 9, ấp Hưng H, xã Phú H, huyện Phú T, tỉnh An Giang, có mặt.

- Bị đơn: Ông Ngô Văn V, sinh năm 1983 nơi cư trú: Tổ 9, ấp Hưng H, xã

Phú H, huyện Phú T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 01 năm 2021 và lời khai của nguyên đơn ông Trương Văn Th trình bày: Trước đây ông Ngô Văn V nhà ở sát vách nhà ông có hành vi chưởi mắng, đập phá tài sản của gia đình ông, có báo chính quyền địa phương, đã được giải quyết xong. Đến ngày 24/4/2020, ông đang ở nhà thì thấy ông V đi đến nhà ông vừa chưởi thề, vừa dùng dao chặt, bẻ cành làm đứt và gãy toàn bộ các chi và một phần thân của cây mai chiếu thủy 40 tuổi trị giá 15.000.000 đồng và 01 cây mai vàng 15 năm tuổi trị giá 5.000.000 đồng. Vụ việc được ủy ban nhân dân xã hòa giải nhưng không thành. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông V bồi thường thiệt hại hai cây mai số tiền 20.000.000 đồng.

Bị đơn ông Ngô Văn V trình bày: Do cây mai chiếu thủy của ông Th trồng qua đất ông V có nhánh chìa qua đường lên xuống bến sông, sợ máy cày của ông lên xuống làm chốc gốc mai chiếu thủy nên ông có dùng dao chặt 02 nhánh nhỏ chìa qua đất cho đường thông thoáng, đối với cây mai vàng thì ông không có dùng tay bẻ đọt. Ông nghĩ nhánh mai chiếu thủy không có giá trị lớn nên khi chặt ông không có hỏi ông Th. Ông không đồng ý với yêu cầu bồi thường của ông Th. Nếu cây mai chiếu thủy có bị ảnh hưởng, ông đồng ý hỗ trợ cho ông Th 100.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

+Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ tố tụng.

+Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Ngô Văn V bồi thường cho ông Trương Văn Th giá trị 02 cây mai theo định giá là 550.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1]Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có nơi cư trú tại xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang về vệc yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản nên thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Biên bản hiện trường ngày 25/4/2020 của Công an xã Phú Hưng, huyện Phú Tân xác định: Ngày 25/4/2020, sau khi uống rượu ông Ngô Văn V có dùng dao chặt cây mai chiếu thủy của ông Trương Văn Th thì xảy ra cự cải, đánh nhau thì được can ngăn. Tại hiện trường, 01 cây mai chiếu thủy của ông Th bị gãy 02 nhánh nhỏ, 01 cây mai vàng nhỏ bị gãy đọt.

[2.2] Ông Th cho rằng ông V chặt nhánh của cây mai chiếu thủy và bẻ đọt cây mai vàng làm mất giá trị cây; ông Th yêu cầu ông V phải bồi thường trị giá cây mai chiếu thủy là 15.000.000 đồng và cây mai vàng 5.000.000 đồng, tổng cộng là 20.000.000 đồng. Ông V cho rằng ông chỉ chặt hai nhánh nhỏ của cây mai chiếu thủy, không có bẻ đọt cây mai vàng. Ông V không đồng ý bồi thường cho ông Th với lý do chặt hai nhánh mai chiếu thủy thiệt hại không lớn, chỉ đồng ý hỗ trợ 100.000 đồng.

[2.3] Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 02/7/2021 xác định: 01 cây mai chiếu thủy có thân chu vi 0,23m cao 02m có 04 nhánh bị chặt đứt, dấu chặt đã cũ trị giá cây mai 150.000 đồng; 01 cây mai vàng thân có chu vi 0,05m cao 1,3m, thân mai bị tướt làm hai, dấu tướt cũ, trị giá cây mai 400.000 đồng.

[2.4] Như vậy, ngay sau khi xảy ra sự việc ông V chặt mai ông Th, Công an xã Phú Hưng đã lập biên bản hiện trạng cây bị chặt, chỉ xác định cây mai chiếu thủy bị chặt hai nhánh nhỏ, cây mai vàng bị bẻ đọt. Ông Th cho rằng ông V chặt các chi cây mai chiếu thủy và bẻ đọt cây mai vàng; ông V chỉ thừa nhận chặt 02 nhánh mai chiếu thủy, không bẻ đọt cây mai vàng. Ông Th không có chứng cứ chứng minh ông V chặt 04 nhánh cây mai chiếu thủy và bẻ đọt cây mai vàng nên chấp nhận lời trình bày của ông V là ông V có dùng dao chặt 02 nhánh cây mai chiếu thủy của ông Th. Ông V chặt 02 nhánh cây mai chiếu thủy mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu ông Th là hành vi trái với quy định pháp luật. Tuy nhiên, cây mai chiếu thủy có thân và chiều cao lớn, trị giá cây chỉ 150.000 đồng, việc chặt hai nhánh nhỏ của cây là thiệt hại không đáng kể, không ảnh hưởng nhiều đến giá trị cây. Do đó, ông Th khởi kiện yêu cầu ông V bồi thường thiệt hại 02 cây mai trị giá 20.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.

[2.5] Ông V tự nguyện hỗ trợ cho ông Th tiền 02 nhánh mai chặt 100.000 đồng nhưng tại phiên tòa ông Th không đồng ý việc hỗ trợ, chỉ yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ của ông V số tiền 100.000 đồng.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng:

Ông Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Tuy nhiên, ông Th là người cao tuổi, ông có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên ông Th được miễn tòan bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án

Ông Th phải chịu chi phí tố tụng tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 1.000.000 đồng (ông Th đã nộp xong)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn Th đòi ông Ngô Văn V bồi thường thiệt hại tài sản 20.000.000 (hai mươi triệu đồng)

Ông Th được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Th phải chịu chi phí tố tụng 1.000.000 (một triệu đồng), đã nộp xong.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ