vanban.org

Bản án 51/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội:"Trộm cắp tài sản"

Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Minh T về Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Hóc M, Thành phố H để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội:"Trộm cắp tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN P
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/HSST
Ngày: 30-03-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN P, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc M

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Công T

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ L

Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều O– Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân P, thành phố H

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân P, thành phố H tham gia phiên

toà: Phan Ngọc M – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân P, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 07/2021/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HS ngày 03/03/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh năm: 1991 tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: 167/11D (số cũ 27/3A) tổ 17A, ấp Thới Tây 2, xã Tân H, huyện Hóc M, Thành phố H; Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị G; Anh chị em ruột: có 01 người, sinh năm 1987; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/10/2020. (có mặt)

Người bị hại: Chị Trần Thị Mộng T, sinh năm: 1993(vắng mặt)

Địa chỉ: Phòng trọ 413 nhà số 36-38 đường B, phường Phú T, quận Tân P, Thành phố H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Cù Huy T, sinh năm: 1983(vắng mặt)

Địa chỉ: 269/12C3 Bà H, phường 13, Quận 6, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trang 1

Vào khoảng 17 giờ ngày 28/09/2020, Nguyễn Minh T đi công việc về đến nhà trọ số 36-38 đường B, Khu ADC, phường Phú T, quận Tân P, Thành phố H thì thấy bãi giữ xe của nhà trọ không ai trông coi nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi quan sát, T thấy xe gắn máy hiệu Honda SH 150i biển số 59K1-333.35 của chị Trần Thị Mộng T không khóa nên T lấy xe ra khỏi nhà trọ, đẩy bộ đến tiệm sửa xe tại địa chỉ số 271/ 29 Trịnh Đình T, phường Hòa T, quận Tân P, Thành phố H của anh Nguyễn Quốc H, nói là xe bị mất chìa khóa và nhờ anh H nối hệ thống dây điện để nổ máy xe. Sau đó, T điều khiển xe máy đến gửi tại bãi gửi xe ở chung cư Phú T, số 53 Nguyễn S, phường Phú T,quận Tân P, thành phố H rồi đi bộ về phòng trọ.

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 29/09/2020, chị Tr định lấy xe đi làm thì phát hiện xe đã bị mất trộm. Qua kiểm tra camera thì anh Đỗ Văn Đ (chủ nhà trọ) và chị Tr thấy T chính là người trộm cắp xe gắn máy biển số 59K1-333.35 nên gặp T và T đã thừa nhận hành vi trộm cắp như trên đồng thời đưa thẻ gửi xe để anh Đ đến chung cư Phú T lấy xe về. Sau đó anh Đ và chị Tr đã đưa Tân đến Công an phường Phú T trình báo.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 2201/KL-HĐĐGTS ngày 03/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân P: 01 xe gắn máy hiệu Honda SH 150i, biển số 59K1-333.35, số khung 0B0BF125095, số máy: F08E96261 trị giá 130.000.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda SH 150i, biển số 59K1-333.35, số khung 0B0BF125095, số máy: F08E96261, đã trả cho chị Trần Thị Mộng T.

- 01 áo sơ mi dài tay màu trắng xanh, 01 quần Jean dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm có chữ Piaggio màu xám, 01 đôi giày màu xanh có chữ Solomom, là trang phục Tân sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang nhập kho vật chứng.

- 01 đĩa CD hiệu Kachi, ghi nhận hình ảnh Nguyễn Minh T thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang lưu vào hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự : Chị Trần Thị Mộng T được bị cáo Tân bồi thường 10.000.000 đồng khắc phục việc hư hỏng ổ khóa xe, ngoài ra chị Tr không yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Minh T.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSQ.TP ngày 14 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân P đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân P giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đề nghị xử phạt

Trang 2

bị cáo Nguyễn Minh T 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 04 năm đến 05 năm.

- Bị cáo Nguyễn Minh T thống nhất v ớ i tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân P đã truy tố, không có oan sai, không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ 55 phút ngày 28/09/2020 Nguyễn Minh T đã có hành vi lấy trộm 01 xe gắn máy hiệu Honda SH 150i, biển số 59K1-333.35 trị giá 130.000.000 đồng(qua định giá của Hội đồng định giá) của chị Trần Thị Mộng T tại nhà trọ số 36-38 đường B, Khu ADC, phường Phú T, quận Tân P, Thành phố H thì bị phát hiện qua Camera.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T là phạm tội "Trộm cắp tài sản", do tài sản trị giá trên 50.000.000 đồng theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó Cáo trạng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Về nhân thân:

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường 10.000.000 đồng khắc phục việc hư hỏng xe cho bị hại chị Tr, ngoài ra tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên thiệt hại không lớn, bị hại làm đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tân do đó nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xét bị cáo không thuộc những trường hợp bị cấm không cho hưởng án treo của Nghị quyết 02/2018/NQ-HDTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo theo điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Trang 3

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Mộng T không yêu cầu bồi thường gì, có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Minh T, nên Tòa không xem xét thêm.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda SH, màu sơn : trắng, biển số 59K1-333.35, số khung: ZD6KF10B0BF125095; SM: KF08E1096261KTGE1.Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Tân P đã trao trả lại cho chị Trần Thị Mộng T, Tòa không xem xét thêm.

- 01 (một) bộ quần áo sơ mi tay dài màu trắng xanh,quần Jean dài màu đen, là vật chứng nhận dạng xét nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) mũ bảo hiểm có chữ Piaggio màu xám, là vật chứng nhận dạng xét nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) đôi giày màu xanh có chữ Solomon, là vật chứng nhận dạng xét nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 đĩa CD hiệu Kachi, ghi nhận hình ảnh Nguyễn Minh T thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang lưu vào hồ sơ vụ án. Xét tiếp tục lưu hồ sơ để làm bằng chứng.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội:"Trộm cắp tài sản"

Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Minh T về Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Hóc M, Thành phố H để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

[2] Áp dụng khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo sơ mi tay dài màu trắng xanh,quần Jean dài màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm có chữ Piaggio màu xám; 01 (một) đôi giày màu xanh có chữ Solomon.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 277/PNK ngày 21 tháng 10 năm 2020 tại kho vật chứng Công an quận Tân P).

Trang 4

- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 01 đĩa CD hiệu Kachi, ghi nhận hình ảnh Nguyễn Minh T thực hiện hành vi phạm tội, để làm bằng chứng.

[2] Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

(Đã giải thích quy định về án treo)

Cỡ chữ