vanban.org

Bản án 51/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N 48 ( bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2020

Xử phạt: Bị cáo Hà Trung H 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2020 Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với các bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CGTS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N 48 ( bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2020
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/HSST
Ngày 24/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thành

Ông Nguyễn Văn Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Long Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2021/HSST ngày 05 tháng 2 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo: 1. Họ và tên: HÀ TRUNG H – SN 1985Giới tính: Nam HKTT và chỗ ở: Số B phố N, phường N, quận Long Biên, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Họ tên bố: Hà Văn S; Họ tên mẹ: Hà Thị Th; Họ tên vợ: Lê Thị B ( tức Lê Thị H) : Có 02 con sinh năm 2008 và 2013; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 02/11/2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 công an thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa) 2. Họ và tên: HOÀNG VĂN N – SN 1993

Giới tính: Nam

HKTT: Thôn Y, xã Y, huyện Nho Quan, tỉnh N Bình; Nơi ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Họ tên bố: Hoàng Văn K; Họ tên mẹ: Quách Thị T;

Tiền án, tiền sự: 02 tiền án: Bản án số 57/2015/HSST ngày 03/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, Hưng Yên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Nộp án phí ngày 14/3/2016 (chưa được xóa án tích); Bản án số 305/2016/HSST ngày 25/8/2016, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của Bản án 57/2015/HSST ngày 03/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, Hưng Yên xử phạt 42 tháng tù. Nộp án phí ngày 25/8/2016. Ra trại ngày 27/2/2019. (chưa được xóa án tích). Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị bắt ngày 02/11/2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 công an thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa) Bị hại: Chị Lê Thị Bích N1 , SN 1991 HKTT: T, huyện Hàm Yên, Tỉnh Tuyên Quang. ( Vắng mặt) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn S - SN 1981 HKTT: N , N, Long Biên, TP Hà Nội. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/11/2020, Công an phường Ngọc Thụy , quận Long Biên Hà Nội tiếp nhận đơn trình báo của chị Lê Thị Ngọc B về việc: Khoảng 11h00’ ngày 01/11/2020, chị Bích đi bộ xuống khu vực bãi giữa dưới gầm cầu Long Biên thuộc phường Ngọc Thụy , quận Long Biên trên tay cầm điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng thì bất ngờ bị 02 thanh niên cướp giật điện thoại.

Nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra làm rõ:

Khoảng 10h00’ ngày 01/11/2020, H điều khiển xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly màu trắng BKS 30Z5 – 1246 để chở N đi chơi. Khi đi qua đoạn cầu Long Biên dẫn xuống bãi giữa Sông Hồng (hướng Hoàn Kiếm đi Long Biên) thuộc phường Ngọc Thụy , quận Long Biên, Hà Nội, N phát hiện chị Bích đang đi bộ ở dưới bãi giữa Sông Hồng và nghe điện thoại. N nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của chị Bích. N bảo H “Anh dừng lại cứ nổ máy đợi em xuống lấy điện thoại”. H đồng ý và ngồi trên xe đợi, N đi bộ xuống bãi giữa Sông Hồng thuộc phường Ngọc Thụy rồi tiến gần đến người chị Bích. Lợi dụng sơ hở N đã dùng tay trái chạy từ phía sau giật chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu vàng chị Bích đang cầm trên tay, sau đó bỏ chạy theo đường bậc thang lên cầu Long Biên rồi lên xe của H . Chị Bích vừa đuổi theo N tri hô “Cướp, cướp”. H chở N phóng xe bỏ chạy về hướng vườn hoa Yên Tân thuộc phường N1 Lâm. Sau khi cướp điện thoại, N và H đi bán chiếc điện thoại trên tại cửa hàng điện thoại 76 đường Ngô Gia Khảm, phường N1 Lâm cho anh Nguyễn Văn S (Sinh năm: 1981; HKTT: Số 76 Ngô Gia Khảm, phường N1 Lâm, Long Biên, Hà Nội) với giá 400.000 đồng. Sau khi bán, N lấy lại chiếc sim gắn trong máy và vứt ở trước cửa hàng, số tiền bán được N và H đã tiêu xài cá nhân hết.

Tang vật thu giữ:

- Thu giữ của anh Nguyễn Văn S : 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng;

- Thu giữ của Hà Trung H : 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly màu trắng đã qua sử dụng BKS 30Z5-1246, số khung LBM571000003126, số máy M571M033851; 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu vàng nhãn hiệu Protec.

Tại bản Kết luận định giá tài sản 209/KL-HĐĐGTS ngày 17/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên, kết luận: Điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng và sim điện thoại, trị giá 5.760.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Hà Trung H và Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ sự việc như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và người liên quan cũng như các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ.

Đối với Nguyễn Văn S : Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S và Hoàng Văn N đều khai S không biết nguồn gốc của điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng S mua là do Hoàng Văn N phạm tội mà có. Khi bán, N nói với S chiếc điện thoại này là của anh họ N và nhờ N đi bán hộ nên không biết mật khẩu . Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Nguyễn Văn S . Về dân sự, Nguyễn Văn S không yêu cầu Hoàng Văn N phải trả số tiền 400.000 đồng.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly màu trắng đã qua sử dụng BKS 30Z5-1246: Kết quả tra cứu chủ phương tiện có BKS 30Z5-1246 mang tên anh Ngô Công Huỳnh (Sinh năm: 1966; HKTT: Tổ dân phố số 4 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội): Anh Huỳnh khai chiếc BKS 30Z5-1246 thuộc sở hữu của anh Huỳnh và hiện anh Huỳnh đang sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda wave S có gắn BKS trên. Tại bản Kết luận giám định số 11353/KL-PC09-Đ3 ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly đeo BKS 30Z5-1246 gửi giám định, hiện có số khung LBM571000003126, số máy M571M033851 là số nguyên thủy. Kết quả tra cứu chủ phương tiện mang tên chị Phạm Thái Hà (Sinh năm: 1981; HKTT: Tổ 2, phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội). Chị Phạm Thái Hà khai: Năm 2016 chị Hà đã bán chiếc xe Piaggio Fly có số khung, số máy trên trên cho một người không quen biết nhưng chiếc xe mang BKS 30L4-8378. Hà Trung H khai chiếc xe Piaggio Fly trên là do H mượn mợ mình là chị Nguyễn Thị Kim Thu (Sinh năm: 1975; HKTT: Số 23/157/7 N1 Lâm, phường N1 Lâm, Long Biên, Hà Nội). Quá trình xác minh, chị Thu đã không có mặt tại địa phương từ năm 2015, hiện đi đâu làm gì không rõ. Kết quả tra cứu xe không nằm trong dữ liệu xe tang vật. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng: Quá trình điều tra xác định, tài sản trên thuộc sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị N1 Bích. Ngày 14/11/2020, Cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả các tài sản trên cho chị Lê Thị N1 Bích. Sau khi nhận lại tài sản, chị Bích không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSLB ngày 04/02/2021 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội: Truy tố Hoàng Văn N về tội “ Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Hà Trung H về tội “ Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 ; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Phạt bị cáo Hoàng Văn N mức án từ 48 - 54 tháng tù

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 ; Điều 58 ; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Phạt bị cáo Hà Trung H từ 20 - 24 tháng tù

Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 136,

Về dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn S không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền bán chiếc điện thoại do cướp giật của chị Lê Thị Bích N1 .

Về xử lý vật chứng:

Buộc các bị cáo Hà Trung H và Hoàng Văn N phải truy nộp số tiền 400.000 đồng thu lời bất chính do phạm tội mà có.

01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng nhãn hiệu Protec đã qua sử dụng không có giá trị nên thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với BKS: 30Z5-1246 ; chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly màu trắng đã qua sử dụng có số khung: LBM 1000003126, số máy: M 571M033851 mà cơ quan điều tra đã thu giữ của Hà Trung H trong vòng 12 tháng, nếu không tìm thấy chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hà Trung H và Hoàng Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, không bị oan sai.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Trung H và Hoàng Văn N không có ý kiến kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11h00’ ngày 01/11/2020 tại khu vực bãi giữa dưới gầm cầu Long Biên thuộc phường Ngọc Thụy , quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Hà Trung H và Hoàng Văn N cùng thống nhất thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng có giá trị 5.760.000 đồng trên tay chị Lê Thị N1 Bích rồi bỏ chạy

Hành vi của bị cáo Hà Trung H đủ yếu tố cấu thành tội “ Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự ; Bị cáo Hoàng Văn N có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này của bị cáo N thuộc trường “ Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hà Trung H về tội “ Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; Hoàng Văn N về tội “ Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.

Vụ án có tính chất đồng phạm, bị cáo Hoàng Văn N là người khởi xướng đồng thời là người thực hành tích cực, bị cáo Hà Trung H là người giúp sức trực tiếp lái xe chở N tẩu thoát. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Hà Trung H , Hoàng Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo Hà Trung H chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Hoàng Văn N có 02 tiền án: Bản án số 57/2015/HSST ngày 03/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, Hưng Yên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Nộp án phí ngày 14/3/2016 (chưa được xóa án tích); Bản án số 305/2016/HSST ngày 25/8/2016, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của Bản án 57/2015/HSST ngày 03/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, Hưng Yên xử phạt 42 tháng tù. Nộp án phí ngày 25/8/2016. Ra trại ngày 27/2/2019. (chưa được xóa án tích. ) Bị cáo Hoàng Văn N có 02 tiền án đều chưa được xóa án tích. Bị cáo mới được ra tù trong thời gian ngắn đã lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu, đã được cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho gia đình, xã hội. Để có tiền ăn tiêu bất hợp pháp, bị cáo đã thực hiện hành vi Cướp giật tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức không tuân thủ pháp luật nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với các bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lê Thị Bích N1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu vàng, không yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn S không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền bán chiếc điện thoại do cướp giật của chị Lê Thị Bích N1 nên Hội đồng xét xử không phải xét.

. Về xử lý vật chứng:

Buộc các bị cáo Hà Trung H và Hoàng Văn N phải truy nộp số tiền 400.000 đồng thu lời bất chính do phạm tội mà có.

01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng nhãn hiệu Protec đã qua sử dụng không có giá trị nên thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với BKS: 30Z5-1246 và chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly màu trắng đã qua sử dụng có số khung: LBM 1000003126, số máy: M 571M033851 mà cơ quan điều tra đã thu giữ của Hà Trung H chưa tìm thấy chủ sở hữu nên Yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp trong vòng 12 tháng, nếu không tìm thấy chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước. [9]. Về án phí : Căn cứ 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 ; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

1.Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N 48 ( bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2020

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 ; Điều 58 ; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

2.Xử phạt: Bị cáo Hà Trung H 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2020

Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết:

Về xử lý vật chứng:

Buộc các bị cáo Hà Trung H và Hoàng Văn N phải truy nộp số tiền 400.000 đồng thu lời bất chính do phạm tội mà có.

01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng nhãn hiệu Protec đã qua sử dụng không có giá trị nên thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với BKS: 30Z5-1246 ; chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Fly màu trắng đã qua sử dụng có số khung: LBM 1000003126, số máy: M 571M033851 mà cơ quan điều tra đã thu giữ của Hà Trung H trong vòng 12 tháng, nếu không tìm thấy chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước. ( Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án quận Long Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/2/2021)

Về án phí: Mỗi bị cáo Hà Trung H , Hoàng Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ