- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢ PRÔNG TỈNH GIA LAI Bản án số: 51/2021/HSST Ngày: 21/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Thế Hùng;
Nghề nghiệp: Giáo viên.
2. Bà: Phạm Thị Nhàn.
Nghề nghiệp: Cán bộ.
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Đức Quang – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Chƣ Prông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣ Prông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhất Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 12 năm 2021. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chƣ Prông xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2021/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Quang V, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1968, Tại: huyện T, tỉnh H.
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã I P, huyện CPr, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã IP, huyện CPr, tỉnh Gia Lai.
Văn hóa: 01/10; Nghề nghiệp: Làm nông. Con ông: Nguyễn Quang H (đã chết) và bà Phạm Thị H (đã chết). Bị cáo có vợ là Cao Thị N, sinh năm 1970 và có 03 con;
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Ngày 09/01/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 12 năm tù về các tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến ngày 20/5/2016 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 09/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chƣ Prông xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 20/6/2020 chấp hành xong hình phạt tù.
- Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 26/6/2021, bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-Nguyễn Thị B, sinh năm 1972.
Trú tại: Thôn T, xã IP, huyện CPr, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện CPr truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau: Nguyễn Quang V là đối tƣợng nghiện ma túy từ năm 2008. Khoảng 11 giờ ngày 26/6/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy Nguyễn Quang V một mình điều khiển xe mô tô BKS: 81T1-088.36 từ nhà tại thôn Tâ, xã IP, huyện C Pr, tỉnh Gia Lai đi sang xã I L, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để mua ma túy sử dụng.
Khoảng 12 giờ 45’cùng ngày, V đi đến khu vực gần chợ xã IL, huyện E, tỉnh Đ L, tại đây V gặp một ngƣời đàn ông tên T (Chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch), V hỏi mua ma túy thì T đồng ý bán, V đƣa cho Tuấn 1.000.000 đồng Tuấn cầm tiền rồi đi đâu đó khoảng 15 phút sau T quay lại đƣa cho V 01 gói ma túy có đặc điểm bên ngoài là 01 gói nylon bên trong có 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có 01 gói nylon, bên trong có chứa ma túy dạng cục, bột màu trắng đục. Sau khi mua đƣợc ma túy, V cất ma túy trong ngƣời và điều khiển xe đi về thôn T, xã IP, huyện CPr, tỉnh Gia Lai.
Trên đƣờng về, khi đi đến một đoạn đƣờng vắng, V dừng xe lại, mở gói ma túy mới mua đƣợc lấy một ít ma túy gói vào một tờ giấy bạc mục đích để sử dụng khi lên cơn nghiện. Sau đó, V bỏ cả 02 gói vào gói nylon và cầm trong lòng bàn tay trái của mình rồi đi về.
Khoảng 16h 00’ cùng ngày, Nguyễn Quang V về đến địa phận thôn T, xã IP thì bị lực lƣợng Công an huyện CPr phối hợp với Công an xã IP tuần tra và bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ trên bàn tay trái của V: 01 gói nylon bên trong có 02 gói chất nghi là ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ChPr đã tiến hành niêm phong theo quy định. Thu giữ 01 xe mô tô BKS: 81T1-088.36 (Số khung: RLHHA 0806AY175912; Số máy: HA08E - 1476026).
Tại Bản kết luận giám định số 466/KLGĐ, ngày 05/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Chất màu trắng đục, dạng cục, bột (trong 01 gói giấy bạc và 01 gói nylon) trong bì thƣ ghi “Tang vật thu giữ của Nguyễn Quang V" niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lƣợng 1,0383 gam.
Sau khi giám định Phòng k thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai đã hoàn trả toàn bộ các m u vật gửi giám định cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chƣ Prông bảo quản.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quang V khai nhận ngoài lần mua ma túy bị bắt quả tang ngày 26/6/2021, trong thời gian tháng 5/2021 Nguyễn Quang V có 02 lần đến khu vực chợ xã IL, huyện E, tỉnh Đắk Lắk mua ma túy của T với tổng số tiền 1.300.000 đồng và V đã sử dụng hết.
Vật chứng vụ án:
- 01 phong bì đƣợc niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có chứa 1,0201gam (Sau khi giám định) chất màu trắng đục, dạng cục, bột (loại Heroine) trong 01 gói giấy bạc và 01 gói nilon và vỏ bao gói, có đặc điểm: Mặt trƣớc có dòng chữ “số 466/PC09, ngày 05 tháng 7 năm 2021”, có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”.
- 01 xe mô tô BKS: 81T1 – 088.36 là xe của gia đình ông Nguyễn Hữu Đông và bà Nguyễn Thị Bền. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Quang V mƣợn xe mô tô BKS: 81T1 – 088.36 đi mua ma túy nhƣng Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Thị B không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chƣ Prông đã trao trả chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị B.
Tại bản cáo trạng số: 50/CT- VKS ngày 04 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣ Prông đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố nhƣ bản cáo trạng nêu trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị HĐXX áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quang V từ 07 năn 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng:
-Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đƣợc niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có chứa 1,0201gam (Sau khi giám định) chất màu trắng đục, dạng cục, bột (loại Heroine) trong 01 gói giấy bạc và 01 gói nilon và vỏ bao gói, có đặc điểm: Mặt trƣớc có dòng chữ “số 466/PC09, ngày 05 tháng 7 năm 2021”, có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chƣ Prông, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣ Prông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang V khai nhận:
Bị cáo sử dụng ma túy từ lâu, bị cáo thƣờng xuyên mua ma túy về sử dụng. Vào ngày 26/6/2021 bị cáo điều khiển xe mô tô đến gần chợ xã IL, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để mua ma túy của một ngƣời tên Tuấn với số tiền là 1.000.000 đồng, đƣợc một gói ma túy rồi bị cáo đi về; Khi về ngang đƣờng bị cáo lấy ma túy ra chia 1 ít vào túi nilon để lúc nào lên cơn thì sử dụng, bị cáo cầm hai gói ma túy trên tay rồi đi về nhà, trên đƣờng về thì bị Công an bắt quả tang và bị giam giữ đến ngày hôm nay.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay; Đối chiếu với các tài liệu chứng cứ và lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, cùng các vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập đƣợc có tại hồ sơ vụ án có căn cứ xác định:
Vào ngày 26/6/2021 bị cáo điều khiển xe mô tô đến gần chợ xã IL, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, để mua ma túy của một ngƣời tên T với số tiền là 1.000.000 đồng, đƣợc một gói ma túy rồi bị cáo đi về; Khi về ngang đƣờng bị cáo lấy ma túy ra chia 1 ít vào túi nilon để lúc nào lên cơn thì sử dụng, bị cáo cầm hai gói ma túy trên tay rồi đi về nhà, trên đƣờng về thì bị Công an bắt quả tang.
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣ Prông truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật.
Bị cáo là ngƣời đã thành niên, có nhận thức pháp luật, bị cáo biết việc tàng trữ chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm; Hơn thế nữa bị cáo là ngƣời đã có tiền án về tội: “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 12 năm tù. Đến ngày 20/5/2016 chấp hành xong hình phạt tù. Nhƣng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục tái phạm. Ngày 09/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chƣ Prông xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Đến ngày 20/6/2020 chấp hành xong hình phạt tù. Nhƣng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng định khung là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS 2015.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma tuý. Mà tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, ảnh hƣởng đến hạnh phúc và kinh tế gia đình, là nguồn của các vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng. Vì vậy cần xử lý bị cáo nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên sau khi bị bắt quả tang thì bị cáo đã thật thà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Căn cứ yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phƣơng, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thơi gian nhất định để bị cáo có điều kiện rèn luyện cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Đối với ngƣời tên T mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Chƣ Prông đã tiến hành điều tra xác minh đối tƣợng trên, nhƣng chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch của đối tƣợng trên. Công an huyện Chƣ Prông đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào xác minh rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ cần xử lý như sau:
-01 phong bì đƣợc niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có chứa 1,0201gam (Sau khi giám định) chất màu trắng đục, dạng cục, bột (loại Heroine) trong 01 gói giấy bạc và 01 gói nilon và vỏ bao gói, có đặc điểm: Mặt trƣớc có dòng chữ “số 466/PC09, ngày 05 tháng 7 năm 2021”, có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”. Đây là chất cấm lƣu hành vì vậy cần tịch thu để tiêu huỷ.
- 01 xe mô tô BKS: 81T1 – 088.36 là xe của gia đình ông Nguyễn Hữu Đông và bà Nguyễn Thị Bền. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Quang V mƣợn xe mô tô BKS: 81T1 – 088.36 đi mua ma túy nhƣng Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Thị B không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chƣ Prông đã trao trả chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị B. Việc xử lý vật chứng của Công an huyện Chƣ Prông là có căn cứ và phù hợp, vì vậy không đề cập xử lý nữa.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
-Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quang V 08 (Tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam là ngày 26/6/2021.
Về vật chứng:
-Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau:
01 phong bì đƣợc niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, bên trong có chứa 1,0201gam (Sau khi giám định) chất màu trắng đục, dạng cục, bột (loại Heroine) trong 01 gói giấy bạc và 01 gói nilon và vỏ bao gói, có đặc điểm: Mặt trƣớc có dòng chữ “số 466/PC09, ngày 05 tháng 7 năm 2021”, có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2021 giữa Công an huyện Chƣ Prông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chƣ Prông).
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Quang V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nƣớc.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/12/2021) bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm;
Ngƣời có quyền lợi và ngh a vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai, -VKSND huyện, tỉnh, -Công an huyện Chƣ Prông, -Bị cáo, -Ngƣời có QLNVLQ, -THADS huyện Chƣ Prông, -THA hình phạt tù. -Lƣu HSVA. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngô Trung Thực |