vanban.org

Bản án 51/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sơn Thị Sốc NR phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Sơn Thị Sốc NR 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/9/2021. Giao bị cáo Sơn Thị Sốc NR cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sơn Thị Sốc NR phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/HSST
Ngày: 30/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bảo Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đỗ Văn Chúc.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Khởi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2021/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

Sơn Thị Sốc NR (tên gọi khác: UR), sinh năm 1972, tại Trà Vinh; Nơi cư trú: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh V; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Sơn L, sinh năm 1930 (chết); Họ tên mẹ: Thạch Thị Th, sinh năm 1935 (chết); Anh chị em ruột 02 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1970; Chồng: Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1959 (không có đăng ký kết hôn và đã ly hôn); Con ruột 02 người, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/6/2021 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Trần Mỹ A, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Thạch Thị SM, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: ấp D, xã H, huyện C, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 27/4/2021, chị Thạch Thị SM, sinh năm 1992, nơi cư trú ấp D, xã H, huyện C, tỉnh V đến tiệm vàng Kim H của chị Trần Mỹ A, sinh năm 1980, tọa lạc khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh V để chuộc lại 01 sợi dây chuyền mà chị M đã cầm cố trước đó. Sau khi kiểm tra biên nhận cầm cố tài sản thì chị Á lấy 01 sợi dây chuyền của chị M bỏ vào túi giấy màu trắng loại dùng đựng vàng nữ trang để trên tủ kính tiệm vàng nhằm giao lại cho chị M và nói cho chị M biết số tiền cầm cố dây chuyền và tiền lãi tổng cộng là 5.050.000 đồng. Chị M có thấy chị Á để sợi dây chuyền trên tủ kính nhưng chưa nhận lại và chưa trả tiền cầm cố tài sản cho chị Á. Tiếp đó, chị M kêu chị Á lấy thêm 01 chiếc nhẫn tròn loại vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ để mua rồi sẽ trả tiền chung với tiền cầm cố sợi dây chuyền. Chị Á quay sang tủ để chọn nhẫn cho chị M. Lúc này, chị M cũng thả đứa con trai khoảng 02 tuổi đang ẳm trên tay của chị M xuống thì đứa bé chạy vào phía trong tiệm vàng. Chị M đuổi theo để giữ con lại rồi đứng phía trong tiệm để chọn nhẫn. Cùng thời điểm này, bị cáo Sơn Thị Sốc NR cũng đến tiệm vàng để tiếp tục cầm thêm 500.000 đồng vì trước đó bị cáo R đã cầm cố cho chị Á 01 chiếc nhẫn vàng với giá 1.000.000 đồng. Trong lúc chờ chị Á đưa tiền, bị cáo R phát hiện túi giấy màu trắng đang để trên tủ kính nghĩ là bên trong có trang sức nên nảy sinh ý định lấy trộm nhằm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi chị Á vừa đưa tiền cầm cố tài sản cho bị cáo R thì bị cáo R dùng tay phải lấy tiền và gom cùng với túi giấy màu trắng bên trong có sợi dây chuyền rồi để vào túi áo khoát của mình và sau đó đi về nhà. Chị Á khi chọn nhẫn cho chị M xong thì hỏi chị M có cất sợi dây chuyền hay chưa thì chị M trả lời là chưa nên kiểm tra camera lại thì phát hiện bị cáo R đã lấy trộm sợi dây chuyền nói trên. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản thì chị M trình báo đến Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh V. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thì bị cáo Sơn Thị Sốc NR thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận giám định số 2533/C09B ngày 18/5/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Viện khoa học hình sự kết luận: 01 sợi dây chuyền được niêm phong gửi giám định có thành phần chính là Vàng (Au), hàm lượng Vàng (Au): 64,54%, khối lượng 11,4067 gam.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 26/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh TV kết luận: 01 sợi dây chuyền kiểu cong bọng, chiều dài 53cm, có thành phần chính là Vàng (Au), hàm lượng Vàng (Au): 64,54%, khối lượng 11,4067 gam (3,042 chỉ) tại thời điểm bị chiếm đoạt, trị giá 10.038.600 đồng.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ và trao trả cho chị Thạch Thị SM: 01 sợi dây chuyền kiểu cong bọng, chiều dài 53cm, có thành phần chính là Vàng (Au), hàm lượng Vàng (Au): 64,54%, khối lượng 11,4067 gam; 01 túi giấy màu trắng cũ đã qua sử dụng, kích thước 6 x 8,5cm, mặt trước có in các dòng chữ màu đỏ, mặt sau có các chữ viết tay bằng mực màu xanh.

Về dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKS.HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Sơn Thị Sốc NR về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Sơn Thị Sốc NR hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 27/4/2021, tại tiệm vàng Kim H của Trần Mỹ Á, tọa lạc khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh V bị cáo lấy trộm 01 sợi dây chuyền kiểu cong bọng của chị Á, trị giá 10.038.600 đồng. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo Sơn Thị Sốc NR thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo Sơn Thị Sốc NR từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ngoài ra vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hồi đồng xét xử xử lý án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Sơn Thị Sốc NR thống nhất với quan điểm luận tội và không tranh luận với Kiểm sát viên và phát biểu lời nói sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Sơn Thị Sốc NR tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Sơn Thị Sốc NR về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, không sai đối với bị cáo.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sơn Thị Sốc NR phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang lo sợ cho mọi người trong việc quản lý tài sản, không an tâm lao động, sinh hoạt. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do tính tư lợi cá nhân, tham lam, ích kỷ, không muốn bỏ ra công sức lao động mà muốn hưởng thụ trên công sức của người khác, tài sản đã được chiếm đoạt. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng có thời hạn để giáo dục bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Hội đồng xét xử xem xét thấy bị cáo Sơn Thị Sốc NR thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù bị cáo cũng đủ khả năng tự cải tạo. Từ những căn cứ trên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T xử phạt tù bị cáo Sơn Thị Sốc NR nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ và trao trả cho chị Thạch Thị SM: 01 sợi dây chuyền kiểu cong bọng, chiều dài 53cm, có thành phần chính là Vàng (Au), hàm lượng Vàng (Au): 64,54%, khối lượng 11,4067 gam; 01 túi giấy màu trắng cũ đã qua sử dụng, kích thước 6 x 8,5cm, mặt trước có in các dòng chữ màu đỏ, mặt sau có các chữ viết tay bằng mực màu xanh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Sơn Thị Sốc NR phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Sơn Thị Sốc NR 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/9/2021.

Giao bị cáo Sơn Thị Sốc NR cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu, nên không xem xét.

4. Về vật chứng: Đã trao trả xong, nên không xem xét.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Buộc bị cáo Sơn Thị Sốc NR phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú. * Nơi nhận:

Cỡ chữ