vanban.org

Bản án 51/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Tuyên án 10/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Lê L, Lê Văn T, Võ Trọng A và Nguyễn Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Nguyễn Đức Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Lê L 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 52 (Năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Kh 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 50 (Năm mươi) tháng tính từ ngày tuyên án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Lê L và đồng phạm phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Lê L, Lê Văn T, Võ Trọng A và Nguyễn Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Nguyễn Đức Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/HS - ST
Ngày: 10/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và bà Trần Thanh Hương.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Luyến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Vũ Lê L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 10 năm 2001; tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Vũ Lê Ph, (chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1981; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2020 đến ngày 03/01/ 2021, hiện nay đang được áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

2. Nguyễn Đức Kh; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 2000; tại huyện Q1, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn B, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Đức Th, sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Bùi Thị L, sinh năm 1980; Vợ,con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2020 đến ngày 03/01/2021, hiện nay đang được áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

3. Lê Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1996; tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Văn V, sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: Lê Thị D1, sinh năm 1964; Vợ,con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2020 đến ngày 03/01/ 2021, hiện nay đang được áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

4. Võ Trọng A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 4 năm 1994; tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Võ Trọng Nh, sinh năm 1969; Họ và tên mẹ: Lê Thị D2, sinh năm 1970; Vợ,con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện nay đang được áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

5. Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 02 năm 2003; tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối Th, phường Q2, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12; Nghề nghiệp: Học sinh; Họ và tên cha: Nguyễn Văn B1, (chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1984; Vợ,con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện nay đang được áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn D: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1984, có mặt.

Nơi cư trú: khối Th, phường Q1, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D: Ông Phạm Văn H - Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh số 1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An, có mặt.

Người bị hại:

Anh Lê Đăng Th, sinh năm 1984, có mặt.

Nơi cư trú: Thôn E, xã Q2, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Công D3, sinh năm 1992, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn E, xã Q2, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Viết Th, sinh năm 1996, có mặt.

Nơi cư trú: Thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh Đào Văn L, sinh năm 1980, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn G, xã Q1, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh Nguyễn Bá Th, sinh năm 1993, vắng mặt.

Nơi cư trú: khối M, phường Q1, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh Nguyễn Hữu Th1, sinh năm 1997, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn S, xã Q2, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh Hồ Văn L, sinh năm 1982, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn F, xã Q2, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Anh Lê Sỹ M, sinh năm 1998, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 27/12/2020, Vũ Lê L, Vũ Văn Th và Nguyễn Viết Th đều trú tại thôn C, xã Q, thị xã H đi xe máy lên khu vực sân vận động xóm X, xã Q2, thị xã H để xem hội chợ. Khi lên đến khu vực tổ chức hội chợ là khoảng 21 giờ cùng ngày L, Th, Th1 gặp Lê Công D. Do trước đó giữa D và L có mâu thuẫn với nhau nên khi gặp L, D đến nắm cổ áo của L và dùng tay, chân đánh vào người L. Khi D đánh L thì được một số người dân can ngăn nên L, Th và Th1 lấy xe máy đi về, trên đường về, L gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Kh, nói với Kh về việc L bị D đánh và rủ Kh đi đánh lại D thì Kh đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực ngã ba L (ngã ba giao nhau với đường Quốc lộ 1A, phường Q1, thị xã H, Nghệ An). Sau khi nghe L gọi điện thoại, Kh điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 37A-779.68 trên xe có một thanh típ sắt và chở Nguyễn Bá Th đến tại khu vực ngã ba L và Kh rủ thêm Lê Văn T, Nguyễn Văn D, Võ Trọng A, và Lê Sỹ M đi đánh D thì tất cả cùng đồng ý và hẹn nhau đến tại khu vực ngã ba L để tập trung. Khi những người trên có mặt, Kh nói với tất cả những người trên “Cu L bị thằng D T đánh lên tìm thằng D T mà đánh”. Sau đó, Kh điều khiển xe ô tô chở Nguyễn Bá Th, A, D, T và M, còn Vũ Lê L, Nguyễn Viết Th, Th1 điều khiển một xe máy cùng với một số người khác điều khiển xe máy để đi lên khu vực sân vận động xã Q2. Khi đi đến khu vực nhà hàng “Laga”, Kh dừng xe cho L, Nguyễn Viết Th và Th1 lấy mỗi người một chiếc gậy gỗ ven đường bỏ vào cốp sau xe ô tô của Kh rồi tất cả đi lên khu vực sân vận động xã Q2. Khi đến khu vực sân vận động xã Q2; Kh dừng xe lại và cùng với L, A, T và D đi bộ vào trong khu vực trong sân vận động để tìm đánh D. Khi đi vào khu vực sân vận động đang có tổ chức hội chợ; Kh, L, A, T và D thấy Lê Công D, Lê Đăng Th, Nguyễn Hữu Th2 đang đứng tại khu vực bãi giữ xe ở cổng ra vào sân vận động. Lúc này, L nói với D “anh D đi ra ngoài nói chuyện” thì D trả lời “Thích thì nói chuyện trong này cũng được”. Khi nghe D nói, Kh chạy đến dùng chân đạp D ngã xuống, lúc Kh đánh dân thì bị một nam thanh niên cầm gậy xông vào đánh Kh. Thấy nam thanh niên trên đánh Kh, T chạy đến dùng tay đánh nam thanh niên đánh Kh thì nam thanh niên trên vứt gậy bỏ chạy, L chạy đến dùng tay đánh D, tiếp đó L lấy chiếc gậy gỗ và dùng gậy gỗ đánh vào người D. Thấy D bị đánh thì một số người trong nhóm D chạy đến thì bị D và A dùng tay chân đánh lại những người trong nhóm của D thì được người dân can ngăn nên Kh, L, T, D và A đi ra. Khi nhóm Kh đi ra thì bị một số người trong nhóm D đuổi theo nên Kh, T, L, D và A chạy ra chỗ xe ô tô của Kh đang đậu, Kh mở cốp sau xe ô tô lấy thanh típ sắt trong xe, T, L chạy đến mỗi người lấy một chiếc gậy gỗ trong cốp sau xe ô tô ra và dùng gậy đuổi đánh lại nhóm D thì số thanh niên trong nhóm D bỏ chạy, Kh dùng thanh típ đánh trúng tay của Th, tiếp đó Kh dùng típ sắt đánh Lê Đăng Th là người soát vé vào hội chợ thì Th giơ tay đỡ và trúng vào tay trái làm cho Th bị thương. Khi nghe nói có lực lượng Công an đến nên Kh, L, D, A và T lên xe đi về. Đến ngày 28/12/2020 Nguyễn Đức Kh, Vũ Lê L và Lê Văn T đã đến Công an thị xã H, Nghệ An đầu thú khai nhận hành vi của mình.

Anh Lê Đăng Th được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện 115 Nghệ An xác định bị gãy xương mõm khuỷu tay bên trái đã phẫu thuật kết hợp xương.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại sức khỏa của anh Th do thương tích gây nên. Tại Kết luận giám định số 06/TTPY ngày 08/01/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Nghệ An kết luận đối với thương tích của anh Lê Đăng Th: tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12% (Mười hai phần trăm).

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSHS ngày 04/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Võ Trọng A và Nguyễn Văn D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1, Điều 318 Bộ luật hình sự; các bị cáo Vũ Lê L và Lê Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Đức Kh về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Vũ Lê L từ 26 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 52 đến 60 tháng.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Lê Văn T từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 52 tháng.

Áp dụng khoản 1, Điều 318, điểm i, s, khoản 1, Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Võ Trọng A từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Áp dụng khoản 1, Điều 318, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn D từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập bị cáo Nguyễn Văn D trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Áp dụng: Điểm đ, khoản 2, Điều 134, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Nguyễn Đức Kh từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Đối với hành vi Lê Công D đánh Vũ Lê L quá trình điều tra, Công an thị xã Hoàng Mai đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” theo quy định tại điểm e, khoản 3, điều 5, Nghị định 167/CP ngày 12/11/2013.

Đối với Nguyễn Bá Th, Nguyễn Viết Th1, Lê Sỹ M quá trình điều tra không tham gia cùng với Kh, L, T, A và D đánh nhau nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng Nguyễn Bá Đ, Hồ Đăng Đ1 quá trình điều tra hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hoàng Mai sẽ tiếp tục xác minh làm rõ.

Vật chứng vụ án:

Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,4m, đường kính 0,02m.

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,5m, đường kính 0,03m.

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,1m, đường kính 0,04m, bị tách đôi còn một nữa.

- 01 (một) thanh gỗ có kích thước (0,92x0,04x0,025) m ở hai đầu có gắn đinh sắt.

- 01 (một) thanh gỗ có kích thước (1x0,04x0,025) m một đầu có gắn đinh sắt.

Các vật chứng trên đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thị xã H bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Về vật chứng là là chiếc gậy sắt sau khi gây thương tích đối với anh Lê Đang Th, Kh đã vứt bỏ không nhớ địa điểm vứt bỏ nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã H không thu giữ được nên miễn xét.

Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 37A 77968 là tài sản của ông Nguyễn Đức Th và bà Nguyễn Thị L là bố mẹ của Nguyễn Đức Kh,ông Th và bà L không biết được Kh dùng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã giao xe cho chủ sở hữu quản lý sử dụng nên miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Đăng Th yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 28.000.000 đồng. Gia đình các bị cáo Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh và Lê Văn T đã bồi thường toàn bộ cho anh Lê Đăng Th số tiền 28.000.000 đồng. Hiện nay anh Lê Đăng Th không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn D bà Nguyễn Thị V thống nhất với lời trình bày của bị cáo. Nhưng chị đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn D.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D, ông Phạm Văn H trình bày: Ông đồng ý như cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1, Điều 318 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cần xem xét bị cáo khi phạm tội chưa thành niên và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thành tích xuất sắc trong thi đấu võ thuật, thể thao. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương mức 12 tháng cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của các bị cáo; người bị hại; người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy phù hợp về thời gian, địa điểm mà các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẩn trước đó giữa Vũ Lê L và Lê Công D1, nên vào khoảng giờ 21 ngày 27 tháng 12 năm 2020 tại khu vực sân vận động xã Q2, thị xã H nơi đang diễn ra việc tổ chức hội chợ tập trung đông người; Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh, Lê Tăn T, Võ Trọng A và Nguyễn Văn D đã dùng tay, chân, gậy sắt và gậy gỗ đánh đập anh Lê Công D1 và một số người khác ở xã Q2 làm mất trật tự tại nơi công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã Q2; Trong đó Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh, Lê Tăn T dùng gậy sắt và gây gỗ; Võ Trọng A và Nguyễn Văn D dùng tay chân, Nguyễn Đức Kh dùng gậy sắt gây thương tích đối với anh Lê Đăng Th, làm cho anh Th bị tổn thương do thương tích gây nên là 12% (Mười hai phần trăm).

Hành vi của các bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Võ Trọng A và Nguyễn Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1, Điều 318 Bộ luật hình sự; các bị cáo Vũ Lê L và Lê Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Đức Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức Kh là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh và Lê Văn T sau khi phạm tội đã đầu thú. Bị cáo Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh, Lê Văn T đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại. Bị cáo Vũ Lê L có thành tích trong ủng hộ phòng chống dịch Covid 19 và ủng hộ người nghèo; gia đình bị cáo Vũ Lê L có công với cách mạng ông bà ngoại được tặng thưởng huy chương kháng chiến; Bị cáo Nguyễn Đức Kh có công cứu giúp người bị tai nạn, đã ủng hộ gia đình nghèo và ủng hộ phòng chống dịch Covid 19. Bị cáo Võ Trọng A và Nguyễn Văn D phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại anh Th đề nghị giảm nhẹ cho các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn D có thành tích trong thi đấu võ thuật, thể thao. Gia đình bị cáo Lê Văn T có công với cách mạng có ông nội có huân chương kháng chiến. Các bị cáo đồng phạm giản đơn, bị cáo Vũ Lê L giữ vai trò chính trong vụ án vì là người khởi xướng từ đầu, thực hành tích cực. Vì vậy mức hình phạt của bị cáo Vũ Lê L phải cao nhất. Bị cáo Lê Văn T, Võ Trọng A là người thực hiện tích cực. Bị cáo Nguyễn Văn D thực hiện tích cực nhưng là người chưa thành niên khi phạm tội nên được hưởng chính sách người chưa thành niên phạm tội. Bị cáo Nguyễn Đức Kh là người thực hiện tích cực hành vi cố ý gây thương tích. Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

Đối với hành vi Lê Công D1 đánh Vũ Lê L quá trình điều tra, Công an thị xã H đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” theo quy định tại điểm e, khoản 3, điều 5, Nghị định 167/CP ngày 12/11/2013.

Đối với Nguyễn Bá Th, Nguyễn Viết Th1, Lê Sỹ M quá trình điều tra không tham gia cùng với Kh, L, T, A và D đánh nhau nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng Nguyễn Bá Đ, Hồ Đăng Đ1 quá trình điều tra hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hoàng Mai sẽ tiếp tục xác minh làm rõ.

Vật chứng vụ án:

Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,4m, đường kính 0,02m.

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,5m, đường kính 0,03m.

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,1m, đường kính 0,04m, bị tách đôi còn một nữa.

- 01 (một) thanh gỗ có kích thước (0,92x0,04x0,025) m ở hai đầu có gắn đinh sắt.

- 01 (một) thanh gỗ có kích thước (1x0,04x0,025) m một đầu có gắn đinh sắt.

Các vật chứng trên đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Về vật chứng là là chiếc gậy sắt sau khi gây thương tích đối với anh Lê Đang Th, Kh đã vứt bỏ không nhớ địa điểm vứt bỏ nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã H không thu giữ được nên miễn xét.

Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 37A 77968 là tài sản của ông Nguyễn Đức Th và bà Nguyễn Thị L là bố mẹ của Nguyễn Đức Kh,ông Th và bà L không biết được Kh dùng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã giao xe cho chủ sở hữu quản lý sử dụng nên miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Đăng Th yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 28.000.000 đồng. Gia đình các bị cáo Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh và Lê Văn T đã bồi thường toàn bộ cho anh Lê Đăng Th số tiền 28.000.000 đồng. Hiện nay anh Lê Đăng Th không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Lê L, Lê Văn T, Võ Trọng A và Nguyễn Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Nguyễn Đức Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 318, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Lê L 26 (Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 52 (Năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 134, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Kh 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 50 (Năm mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 318, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1, Điều 318, điểm i, s, khoản 1, Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Trọng A 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1, Điều 318, điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36, Điều 90, Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn D trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao các bị cáo Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh, Lê Văn T, Võ Trọng A cho UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Văn D được tính từ ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND phường Q1, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai ngày 11/5/2021 gồm:

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,4m, đường kính 0,02m.

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,5m, đường kính 0,03m.

- 01 (một) thanh gỗ có chiều dài 1,1m, đường kính 0,04m, bị tách đôi còn một nữa.

- 01 (một) thanh gỗ có kích thước (0,92x0,04x0,025) m ở hai đầu có gắn đinh sắt.

- 01 (một) thanh gỗ có kích thước (1x0,04x0,025) m một đầu có gắn đinh sắt.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Vũ Lê L, Nguyễn Đức Kh, Lê Văn T, Võ Trọng A, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo; Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Văn D; Người bào chữa; Người bị hại có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ