vanban.org

Bản án 51/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Trúc L và anh Huỳnh Văn Ph là vợ chồng.

Về con chung: Chị Lê Thị Trúc L được trực tiếp nuôi con tên tên Lê Trung K, sinh ngày 17/9/2013, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Trúc L và anh Huỳnh Văn Ph là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 51/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07-12-2021
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh

Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Huy Cường.

- Ông Trần Thanh Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Việt - Thư ký tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên toà: Bà Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 51/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2021 về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 67/QĐST- HNGĐ ngày 22/11/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Trúc L, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Ph (Tý), sinh năm 1986;

Địa chỉ: Tổ 5, khóm H, thị trấn B, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

( Chị L có đơn xin xét xử văn mắt, anh Ph văn mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 02 năm 2021 và bản tự khai khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị Trúc L trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn Ph quen biết, do tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2012 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc và chỉ được trong khoảng thời gian ngắn, chị và anh Ph xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt khoảng tháng 7/2020 chị và anh Ph sống ly thân cho đến nay. Trong khoảng thời gian sống ly thân, chị và anh Ph có gặp nhau nói chuyện hàn gắn vợ chồng nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn Ph.

Về con chung: Chị và anh Ph có 01 con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 17/9/2013 hiện chị đang nuôi dạy, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con..

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Huỳnh Văn Ph: Anh Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập anh Ph đến tham dự phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Ph vắng mặt không lý do.

Tại phiên Toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Thẩm phán: Chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán để án trể hạn xét xử theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Hội đồng xét xử: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chấp hành chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Ý kiến về việc giải quyết vụ án; Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng hôn nhân giữa chị Lê Thị Trúc L và anh Huỳnh Văn Ph do tự tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới, nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ khoản 1 điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận chị L và anh Ph là vợ chồng.

+ Về con chung: Chị L được tiếp tục nuôi dạy cháu tên Lê Trung K, sinh ngày 17/9/2013; anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị L không yêu cầu).

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị L xác nhận là không có, nên không xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

- Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Anh Ph là bị đơn, hộ khẩu thường trú: Khóm H, thị trấn B, huyện Tịnh Biên, An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Lê Thị Trúc L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Ph quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn anh Ph. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Ph vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Trúc L và anh Huỳnh Văn Ph tự tiềm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2012 nhưng không đăng ký kết hôn, chị cho rằng thời gian đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc và chỉ được trong khoảng thời gian ngắn, chị và anh Ph xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt khoảng tháng 7/2020 chị và anh Ph sống ly thân cho đến nay.

Trong khoảng thời gian sống ly thân, chị và anh Ph có gặp nhau nói chuyện hàn gắn vợ chồng nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn Ph, mặc dù hôn nhân giữa chị L và anh Ph được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có con chung, nhưng do hai người không có đăng ký kết. Theo qui định tại khoản 1 Điều 14 luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo qui định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Ph không được chấp nhận mà tuyên bố không công nhận chị L và anh Ph là vợ chồng.

Về con chung: Chị L và anh Ph có 01 con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 17/9/2013; hiện tại chị đang nuôi dạy, đồng thời chị L cũng yêu cầu được tiếp tục nuôi con, để đảm bảo tâm sinh lý và cuộc sống bình thường, nên giao cháu K cho chị L được tiếp tục nuôi dạy là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị L không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác nhận là không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Trúc L và anh Huỳnh Văn Ph là vợ chồng.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Trúc L được trực tiếp nuôi con tên tên Lê Trung K, sinh ngày 17/9/2013, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Lê Thị Trúc L chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: TU/2019/0006298 ngày 24/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ