vanban.org

Bản án 51/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng pháp luật:

2/ Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Duy L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ về việc không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng pháp luật:
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 51/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 17/12/2021
V/v “Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dƣơng Tấn Đấu

2. Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lƣơng Quang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Không tham gia

Trong ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 186/2021/TLST-HNGĐ, ngày 22/10/2021 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị H, sinh năm 1987

Địa chỉ: Hẻm 306 Nguyễn TT, khu phố M, phường D, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

* Bị đơn: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ 8, khu phố N, phường D, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

(Chị H, anh L có đơn xin giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Huỳnh Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2012, anh L và chị H tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu cuộc sống chung hạnh phúc, hai người có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Huỳnh TL, sinh ngày 09/8/2020. Do không đăng ký kết hôn nên khi đăng ký khai sinh cho con, anh L và chị H cùng đi đăng ký, anh L thừa nhận con chung nên trong giấy khai sinh của cháu có tên cha là Nguyễn Duy L và mẹ là Huỳnh Thị H. Hơn một năm nay, anh L bỏ đi không chăm sóc cho chị H và con chung mà kết hôn và chung sống với người phụ nữ khác. Chị H thấy anh L đã có cuộc sống hôn nhân mới nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Huỳnh TL, sinh ngày 09/8/2020 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 7.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị H cam kết khi chung sống với anh L thì không nợ bất cứ cá nhân hay tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Nguyễn Duy L trình bày: Anh L thừa nhận lời trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân là đúng, anh L và chị H tự nguyện chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Tình cảm giữa anh L và chị H không còn hạnh phúc, nên anh đã kết hôn và chung sống với người phụ nữ khác, do đó anh thống nhất ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh L thừa nhận cháu Nguyễn Huỳnh TL, sinh ngày 09/8/2020 là con chung của anh và chị H, anh L thống nhất giao cháu Nguyễn Huỳnh TL cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), anh L cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 4.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh L cam kết khi chung sống với chị H không nợ bất cứ cá nhân hay tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Huỳnh Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Duy L có địa chỉ tại khu phố N, phường D, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị H và bị đơn anh Nguyễn Duy L vắng mặt, cả hai đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh L.

. Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H và bản tự khai của anh L, các bên thừa nhận trong quá trình chung sống như vợ chồng thì anh L và chị H không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay anh L và chị H không còn chung sống với nhau như vợ chồng, tình cảm của hai người không còn và phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh L đã có cuộc sống hôn nhân khác và đã đăng ký kết hôn nên chị H và anh L thống nhất ly hôn. Xét thấy khi chung sống như vợ chồng, chị H và anh L có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa chị H và anh L là vợ chồng.

- Về con chung: Xét thấy, tại buổi hoà giải ngày 22/11/2021, các bên đương sự đã thoả thuận được với nhau về vấn đề con chung và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Giao con chung là cháu Nguyễn Huỳnh TL, sinh ngày 09/8/2020 cho chị Huỳnh Thị H là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Duy L cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 01/12/2021.

Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con, anh L và chị H có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh L và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Duy L không phải chịu án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng pháp luật:

- Căn cứ các Điều 28, 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 14, 16, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/ Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị H và anh Nguyễn Duy L.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Huỳnh TL, sinh ngày 09/8/2020 cho chị Huỳnh Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Duy L cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 01/12/2021.

Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con, anh L và chị H có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh L và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

3/ Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chị H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004093 ngày 21/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, nay được khấu trừ vào tiền án phí, chị H đã nộp xong án phí. Án phí cấp dưỡng nuôi con, anh L phải chịu là 150.000 đồng.

Án xử công khai, báo cho chị H và anh L biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ