vanban.org

Bản án 51/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

Buộc ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đại diện nhận vốn vay 11.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 20/4/2021 là 1.075.000 đồng. Tổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021/DS-ST
Ngày: 20- 4-2021
V/v tranh chấp dân sự
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thái Quân

2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 345/2020/TLST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

Địa chỉ: Số 169, phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T– Chức vụ Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Ngọc Bửu C – Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

Địa chỉ: Số 576 Chu Văn An, ấp Trung 1, thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

Căn cứ ủy quyền: Quyết định số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án.

Ủy quyền lại cho ông Lê Văn T – Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (Quyết định ủy quyền số 71/QĐ-NHCS ngày 30/10/2020)

- Bị đơn: Ông Lê Hồng P, sinh năm 1971

Địa chỉ: Ấp Phú Đông, xã Phú Long, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Bà Châu Thị Hồng L, sinh năm 1973

2- Chị Lê Châu Hồng C, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp Phú Đông, xã Phú Long, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/10/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Văn T trình bày:

Ngày 25/12/2013 ông Lê Hồng P và bà Châu Thị Hồng L vay tiền của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (gọi tắc là Ngân hàng) theo chương trình cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cụ thể:

Số tiền vay 11.000.000 đồng

Thời hạn vay đến ngày 25/9/2018 và được gia hạn đến ngày 23/4/2019

Lãi suất trong hạn 0.65%/tháng

Lãi suất quá hạn 130% lãi suất cho vay (0.845%/tháng).

Mục đích vay: Cho sinh viên Lê Châu Hồng C đi học tại trường Đại học Kỹ thuật công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, khóa học năm 2013- 2016.

Bị đơn đã trả lãi 3.796.689 đồng.

Hết thời hạn vay Ngân hàng phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phú Long đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở bị đơn cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không trả nợ cho Ngân hàng. Nay yêu cầu ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng vốn vay 11.000.000 đồng.

Lãi trong hạn từ ngày 25/12/2013 đến ngày 23/4/2019 là 2.031.000 đồng

Lãi quá hạn từ ngày 24/4/2019 đến ngày 30/10/2020 là 919.000 đồng

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã trả lãi 1.875.000 đồng. Số tiền lãi còn lại là 1.075.000 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng vốn vay và lãi tính đến ngày 20/4/2021 là 12.075.000 đồng và tiếp tục yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng vay.

Bị đơn là ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không đến tham gia tố tụng, không gửi ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án tiến hành xác minh anh Trần Anh K – cán bộ tư pháp xã Phú Long, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cho biết. Ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C nợ Ngân hàng chưa thanh toán, địa phương mời đến làm việc nhưng ông P không đến, chị Lê Thị Hồng C đang đi làm tại tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, cho thấy với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành pháp luật tố tụng chưa nghiêm .

Về giải quyết vụ án, Ngân hàng yêu cầu với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả số tiền vốn vay và lãi tính đến ngày 30/10/2020 là 12.075.000 đồng và tiếp tục yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng vay là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 30/10/2020 và tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng vốn vay và lãi tính đến ngày 0/10/2020 là 12.075.000 đồng và tiếp tục yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng vay, đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông P có nơi cư trú tại ấp Phú Đông, xã Phú Long, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng vay tài sản ngày 25/12/2013 đã ký giữa hai bên, tổng vốn vay và lãi tính đến ngày 20/4/2021 là 12.075.000 đồng và tiếp tục yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng vay.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay ngày 25/12/2013 ông P và bà L chỉ thanh toán được cho Ngân hàng tiền lãi trong hạn là 5.671.689 đồng. Theo các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhắc nợ nhưng ông P và bà L không thanh toán nợ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Chị Lê Châu Hồng C là người thụ hưởng số tiền vay theo hợp đồng nêu trên nhằm mục đích phục vụ việc học và đã kết thúc khóa học 2013-2016, chị C phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông P và bà L trả khoản vay nêu trên. Do đó Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng vay tài sản ngày 25/12/2013 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ Luật dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Về án phí sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 463, 465, 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

Buộc ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đại diện nhận vốn vay 11.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 20/4/2021 là 1.075.000 đồng. Tổng vốn vay và lãi đến ngày 20/4/2021 là 12.075.000 đồng

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất của hợp đồng vay vốn, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hồng P, bà Châu Thị Hồng L và chị Lê Châu Hồng C phải chịu án phí sơ thẩm là 604.000 đồng

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ