vanban.org

Bản án 51/2021/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P, buộc bà Trương Thị Hoa Q bồi thường cho bà tổng số tiền là 2.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P, buộc bà Trương Thị Hoa Q bồi thường cho bà tổng số tiền là 2.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2021 /DS-ST
Ngày: 28-5-2021
V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Liêm

2. Bà Trương Thị Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2021, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXX ST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1957 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Chị Trương Thị Hoa Q, sinh năm 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2020, các văn bản tố tụng khác và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06/11/2019, trong lúc bà ở trong nhà đi ra tới ngõ thì Trương Thị Hoa Q đến ngõ bà, tư thế cầm cây cào cỏ và ôm rác bỏ trong sân của bà nên bà la lên. Sau đó Q cầm cào cỏ đánh nhiều cái liên tiếp trên tay và đầu bà làm cho tay trái sưng và bầm tím 1/3 cẳng tay trái. Tay phải bà không sưng nhưng bầm tím toàn tay. Phần đầu bên phải có đau và sưng nhưng bà không xác định được bị đánh bằng tay hay vật gì. Ngoài ra không còn thương tích nào khác. Đến 15 giờ 00 cùng ngày, bà bị đau nên được gia đình đưa đi nhập viện. Đến ngày 16/11/2019 thì bà xuất viện. Bà xác định chỉ có chị Q trực tiếp đánh bà gây thương tích, còn ông Lê Xuân T (chồng của Q) không có đánh bà. Sau khi xảy ra xô xát với Q thì bà không xô xát với ai khác, không bị té ngã gì cả.

Tại phiên tòa, bà chỉ yêu cầu Trương Thị Hoa Q bồi thường cho bà khoản tiền chi phí nằm viện và thuốc điều trị 1.807.000đ. Tiền ngày công lao động trong thời gian 10 ngày nằm viện 1.300.000đ, tổng cộng số tiền 3.107.000đ. Ngoài ra bà không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 31/3/2021, các văn bản tố tụng khác và tại phiên tòa bị đơn chị Trương Thị Hoa Q trình bày:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/11/2019, chị đi từ nhà đến thăm vườn mai của chị. Khi đi đến cầu bắt qua mương nước, thấy có nhiều rác nên chị quay về nhà lấy 01 cây cào cỏ đi đến cào rác đi chỗ khác. Bà P từ trong nhà xông ra và dùng những lời lẽ thiếu tế nhị chửi mắng chị. Trước đây hai bên cũng đã xảy ra mâu thuẫn do bà P cho rằng chị bắc cầu qua mương nước làm ảnh hưởng sinh hoạt đến gia đình bà P. Sau khi bà P chửi mắng chị, ngay lập tức bà P xông tới xô chị ngã xuống đường bê tông, sau đó hai bên xô xát vật nhau xuống đường. Thời gian đánh nhau rất nhanh, sau đó chị gượng dậy và chửi nhau với bà P. Lúc này có người dân cùng địa phương ngăn cản, hai bên tiếp tục chửi nhau một lúc rồi chị bỏ về nhà. Khi hai bên đánh nhau, chị bị xây xát nhẹ ở tay chân, về phần bà P, chị không thấy bà có thương tích gì. Sau đó, chị nghe người ta nói bà P có đến bệnh viện để chữa vết thương. Mặc dù hai bên có xảy ra xô xát nhưng chị xác định thương tích của bà P không phải do chị gây ra. Cũng trong cùng ngày, sau khi xảy ra xô xát với chị thì bà P không đánh nhau với ai, chị cũng không nghe bà P bị té ngã gì.

Nay chị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà P về bồi thường số tiền 3.107.000đ vì chị không gây ra thương tích cho bà P.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, tất cả các hoạt động tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký đều tuân theo đúng quy định của pháp luật. Còn về chấp hành pháp luật tất cả các đương sự đều thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P buộc chị Trương Thị Hoa Q phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà P với số tiền là 2.203.500đ (trong đó tiền chi phí điều trị hợp lý số tiền là 903.500đ và tiền ngày công 10 ngày nằm viện là 1.300.000đ)

Về án phí: Buộc chị Q phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị P yêu cầu chị Trương Thị Hoa Q thanh toán tiền chi phí cho việc cứu chữa và tiền ngày công không lao động được, nên quan hệ pháp luật là Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” được quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự và khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Trương Thị Hoa Q cư trú tại xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định nên theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân thị xã A.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà P về việc buộc chị Q bồi thường thiệt hại về sức khỏe:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ tại hồ sơ như các lời trình bày của các đương sự, Bản kết thúc điều tra, Quyết định giải quyết khiếu nại của Công an thị xã A và bản kết luận của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A thể hiện nội dung vụ án do bà P và chị Q mâu thuẫn trong sinh hoạt trước đó, khoảng 08 giờ 30 ngày 06/11/2019 chị Q cào rác trước nhà bà P, khi cả hai gặp nhau thì xảy ra kình cãi. Bà P dùng tay xô vào người chị Q, chị Q dùng tay nắm áo bà P, cả hai ngã xuống mặt đường bê tông, ôm vật qua lại. Không có chứng cứ nào xác định chị Q cầm cào cỏ đánh trúng cẳng tay trái bà P. Việc giải quyết khiếu nại Công an thị xã A tại BL “... trưng cầu giám định lại thương tích của bà P và xác định thương tích trên là do vật gì gây ra là không có căn cứ.”. Sau khi xảy ra xô xát thì bà P không bị tổn thương cơ thể.

Tại biên bản làm việc Công an xã N vào ngày 29/4/2020 chị Q xác định giữa bà P và chị Q xảy ra xô xát đánh nhau, hậu quả bà P có đi nhập viện. Ngày 07/02/2020 cũng tại công an xã N thì giữa hai bên hòa giải chị Q chấp nhận bồi thường số tiền 3.107.017đ cho bà P vào ngày 14/02/2020 nhưng chị Q không bồi thường vì bà P có lời thách thức.

Căn cứ Giấy ra viện ngày 16/11/2019 thì thể hiện bà P đa chấn thương phần mềm và bệnh tăng huyết áp còn Giấy chứng nhận thương tích thì tình trạng lúc vào viện bệnh nhân tiếp xúc tốt, than đau đầu chóng mặt, than đau vùng thái dương, không thấy sưng, mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái sưng và bầm tím, kích thước 4x 6cm, các cơ quan khác bình thường. Về bệnh án điều trị thì thể hiện vào viện với lý do bệnh nhân than đau đầu chóng mặt, than đau vùng thái dương nhưng không thấy sưng, chẩn đoán kèm theo là bệnh tăng huyết áp vô căn nguyên phát, tình trạng lúc ra viện bệnh ổn định. Theo y học thì bệnh tăng huyết áp là bệnh lý nền, khi có xảy ra vụ việc thì sẽ bị ảnh hưởng vì có vụ việc đánh nhau nên bà P đã nhập viện theo dõi và điều trị cả về bệnh huyết áp.

Qua các chứng nêu trên, thể hiện vụ việc xảy ra do hai bên đều có hành vi xô xát và vật nhau xuống đường khiến bà P phải nhập viện để điều trị. Trường hợp này cả hai cùng có lỗi nên chị Q phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà P. Tại phần cuối thủ tục hỏi tại phiên tòa, bà P chỉ yêu cầu chị Q bồi thường số tiền tại phiên hòa giải ngày 07/02/2020 chị Q đã chấp nhận bồi thường cho bà gồm tiền chi phí tại bệnh viện là 1.807.000đ và 1.300.000đ tiền ngày công không lao động được còn các khoản tiền khác như tiền thuốc bắc, tiền chụp X quang và tiền ăn, tiền xăng xe bà tự rút không yêu cầu chị Q bồi thường nữa và bà cũng không yêu cầu khoản tiền nào khác.

Qua xem xét yêu cầu của bà P thì HĐXX thống nhất buộc chị Q phải có trách nhiệm bồi thường 50% chi phí hợp lý điều trị tại Trung tâm y tế cho bà P và thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bà nằm viện 10 ngày, với ngày công lao động ở địa phương bình quân 130.000đ/ngày là hợp lý, còn các khoản chi phí khác bà P không yêu cầu nên miễn xét. Vậy chị Q phải bồi thường cho bà P tổng số tiền là (1.807.000đ: 2) + (10 ngày x 130.000đ/ngày) = 2.203.500đ. Việc yêu cầu của bà P và được Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu về chi phí hợp lý cho việc chữa trị và toàn bộ tiền ngày công không lao động được với số tiền trên là phù hợp với quy định tại Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự.

Chị Q có nghĩa vụ bồi thường cho bà P số tiền trên khi bản án có hiệu lực.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do chấp nhận một phần yêu cầu của bà P nên chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với khoản tiền bồi thường. Bà P không phải chịu án phí.

Qua đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A phù hợp với nhận định trên nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 584, 585, 588 và Điều 590 Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P, buộc bà Trương Thị Hoa Q bồi thường cho bà tổng số tiền là 2.203.500đ (Hai triệu hai trăm lẻ ba nghìn năm trăm đồng). Trong đó: Tiền chi phí hợp lý điều trị cho việc cứu chữa là 903.500đ (Chín trăm lẻ ba nghìn năm trăm đồng) và tiền thu nhập thực tế bị mất là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khác khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Hoa Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà P không phải chịu án phí.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bà P và chị Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ