vanban.org

Bản án 51/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ng 12 tháng tù. Thời hạn tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Ngh "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử; Điều 173 Bộ luật hình sự xử; Điều 38 Bộ luật hình sự xử
TAND HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2020/ HS-ST
Ngày: 09/7/2020
` NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Kiệm

Ông La Duy Thanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Cán bộ Toà án nhân dân huyện

Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên

toà: Ông Vương Văn Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục

Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2020/ HSST ngày 24/6/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn Ngh , sinh năm 1981; Tên gọi khác: Không;

Giớ tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã KL, huyệ n LNg, tỉnh BG; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 2/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn Ch (đã chế t); Con bà: Lý Thị B (đã chế t); Vợ: Nguyễ n Thị T, sinh năm 1982 hiệ n trú tạ i thôn ĐG, xã ĐL, huyệ n LG, tỉnh BG. Bị cáo có 02 con (lớ n sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010); Tiền sự: có 01 tiền sự, cụ thể: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 14/12/2015 của Công an huyệ n Lụ c Ngạ n xử phạ t Hoàng Văn Ng 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trữ trái phép chất ma túy. Đế n thời điểm phạ m tộ i này Ngh chưa chấ p hà nh. Nhân thân: Năm 2012 Hoàng Văn Ng cùng đồng phạm có hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp là 3.200.000 đồng. Tại bả n á n hình sự sơ thẩm số 10 ngày 30/01/2013 của Tò a á n nhân dân huyệ n Lụ c Ngạ n xử phạ t Hoàng Văn Ng 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” ,. Ngày 31/8/2013 Ngh chấ p hà nh xong hì nh phạ t tù về đị a phương, ngày 02/4/2018 chấ p hà nh xong án phí của bản án. Tiề n á n : Có 01 tiề n á n: Năm 2017 Hoàng Văn Ngh cùng đồ ng phạ m có hà nh vi Trộ m cắ p tà i sả n và Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạ t tài sản, tổ ng trị giá tài sản chiếm đoạt là 16.440.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2017/HSST ngà y 24/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 1 Điề u 138; khoản 1 Điề u 140; điể m p khoả n 1, khoản 2 Điề u 46; điể m g khoả n 1 Điề u 48; Điề u 33; Điề u 50 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 xử phạ t Hoàng Văn Ngh 15 tháng tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” và 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổ ng hợ p hì nh phạ t buộc Nghĩa phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 27 tháng tù giam, thờ i hạ n tí nh từ ngà y tạ m giam 04/7/2017 và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm 470.000 đồng, bồ i thườ ng dân sự cho cá c bị hạ i số tiề n 9.200.000 đồng. Ngày 04/10/2019 Ngh chấ p hà nh xong hì nh phạ t tù về đị a phương . Ngày 02/4/2018 Ngh đã chấ p hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm , đố i vớ i khoả n tiề n bồ i thườ ng dân sự chưa chấ p hà nh xong . Bị cáo đầ u thú bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 30/3/2020 đến nay. Hiệ n đang tạ m giam tạ i nhà tạm giam Công an tỉ nh Bắ c Giang ( Có mặt).

* Bị hại: Phạm Văn A, sinh năm 1984 ( Vắng mặt)

Trú quán: Thôn 9, xã PD, huyện KB, tỉnh ĐL.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Lâm Văn D, sinh năm 1992 ( Có mặt)

Trú quán: Thôn CV – KL – LNg – BG.

2/ Bà Trần Thị S, sinh năm 1967 ( Có mặt)

Trú quán: Thôn CV – KL – LNg – BG.

3/ Anh Đào Văn T, sinh năm 1981 ( Vắng mặt)

Trú quán: Thôn PN – KT – LNg – BG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn Ngh, sinh năm 1981 trú tại thôn H, xã KL, huyệ n LNg, tỉnh

BG là người đã có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Khoảng 13 giờ ngày 29/3/2020 Ngh đi bộ sang nhà anh Vi Văn Đ, sinh năm 1971 ở thôn CV, xã KL, huyệ n LNg chơi. Tại đây Ngh gặ p Lâm Văn D, sinh năm 1992, trú tại thôn CV, xã KL, huyệ n LNg cũng đến nhà anh Đ chơi. Khoảng 30 phút sau Ngh nhờ Dương chở đi có việc, Dương đồ ng ý . Sau đó Dương điều khiển xe mô tô biể n số 98H6 – 2577 chở Ngh đi về hướ ng thôn Cấ m Vả i, xã Kiên Lao. Trên đườ ng đi Ngh bảo Dương chở lên chỗ nuôi ong để xin tiền. Dương nhấ t trí và điề u khiể n xe chở Ngh đến cơ sở của Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên ở địa phậnthôn CV, xã KL, huyệ n LNg là nơi anh Phạm Văn A, sinh năm 1984 Đ ký nhân khẩu thường trú tại Thôn 9, xã Pơng Drang , huyệ n Krong Busk , tỉnh Đắc Lắk đang đặt nhờ các thùng gỗ nuôi ong tại đó. Khi đế n nơi, Dương đỗ xe ở ngoà i dãy nhà ở của công ty đứng chờ , còn Ngh đi và o bên trong để xin tiề n nhưng không thấ y có ai ở đó . Ngh đi quay ra thì Dương nó i “Không thấ y ai thì bê trộ m lấy thù ng ong cũng được”. Nghe Dương nó i vậ yNgh đi bộ quay và o khu vực đặt các thùng ong ở phía sau dãy nhà ở bê trộm 01 thùng nuôi ong, loại thùng đóng bằng gỗ , kích thước (55 x 43 x 35)cm, bên trong có chứ a 09 (chín) cầ u ong và cá c con ong (loại ong ý) vẫ n đang cho thu hoạ ch mậ t. Ngh bê thùng nuôi ong ra ngồ i lên xe mô tô, Dương điề u khiể n xe chở Nghĩa mang thùng ong đế n nhà anh Đoà n Văn Tiế n, sinh năm 1981 trú tại thôn Phượng Năng, xã Kiên Thành, huyệ n Lụ c Ngạ n để bán cho anh Tiến . Khi đến nơi, Dương đỗ xe ở ngoài cổng bảo Nghĩa đứng chờ, còn Dương đi bộ vào trong gặp anh Tiến và gạ anh Tiến mua thùng ong nhưng anh Tiế n không mua , anh Tiến cho Dương 100.000 đồng. Dương quay ra cù ng Ngh khiêng thù ng nuôi ong và o phí a sau nhà anh Tiến để ở đó . Sau đó Dương chở Ngh đến thị trấn Ch ũ, huyệ n Lụ c Ngạn sử dụng số tiền 100.000 đồng anh Tiến cho để mua ma tú y rồ i cù ng nhau sử dụ ng hế t. Đế n khoả ng 19 giờ 30 phút cùng ngày Hoàng Văn Ngh và Lâm Văn D tiế p tụ c quay lạ i chỗ nuôi ong của anh Phạ m Văn Á i để xin ti ền thì bị người dân giữ lại, báo cho Công xã Kiên Lao đến đưa Nghĩa và Dương về Trụ sở công an xã Kiên Lao để làm việc. Tại đây Hoàng Văn Ngh xin đầu thú về hà nh vi trộ m cắ p nêu trên của bản thân. Cùng ngày29/3/2020 anh Đoà n Văn Tiến giao nộp cho cơ quan điều tra01 thùng nuôi ong hình hộp bằng gỗ, kích thướ c (55 x 43 x 35) cm, bên trong có chứ a09 cầ u ong và cá c con ong(loại ong Ý) ; Lâm Văn D giao nộp01 ( mộ t) xe mô tô biể n số 98H6 -2577và 01 ( bao) tơ dứ a mầ u và ng có ở trên xe từ trướ c cho Công an xã Kiên Lao.

Cùng ngày Công an xã Kiên Lao đã bà n giaoHoàng Văn Ngh và đồ vật

tài liệu trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 31/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn

ra Yêu cầu định giá tài sản số: 272/YCĐG đối với 01 thùng nuôi ong hình hộp bằ ng gỗ, kích thước(55 x 43 x 35)cm, bên trong có chứ a09 (chín) cầ u ong và cá c con ong (loại ong Ý) vẫ n đang cho thu hoạ ch mậ t. Ngày 31/3/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn có kết luận định giá tài sản số: 44/KL-HĐ kết luận: 01 thùng nuôi ong hình hộp bằng gỗ có kích thướ c (55 x 43 x 35) cm, bên trong có chứ a09 ( chín ) cầ u ong và cá c con ong (loại ong Ý) vẫ n đang cho thu hoạ ch mậ t có trị giá tạ i thờ i điể m bị chiế m đoạ t là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng chẵn).

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng

Văn Ng đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của anh Lâm Văn D và bà Trần Thị S tại phiên toà phù hợp

với khai tại Cơ quan điều tra. Tại phiên toà bà Trần Thị S xác định khi anh Lâm Văn D lấy chiếc xe môt tô biển kiểm soát 98H6 – 2577 bà không biết, hiện bà đã nhận lại chiếc xe trên và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa

nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 47/KSĐT ngày 12 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm

sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Ng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân

huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều

51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ng từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 30/3/2020). Miễn phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì

với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra,

Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại

Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lục Ngạn, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Hoàng Văn Ngh, sinh năm 1981 trú tại thôn H, xã KL, huyệ n LNg, tỉnh BG là người đã có tiền án về nhóm tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/3/2020 tại thôn CV, xã KL, huyệ n LNg, tỉnh Bắc Giang , Nghĩa tiếp tục thực hiện hành vi trộ m cắ p 01 thùng nuôi ong bằng gỗ , bên trong có 09 cầ u ong và cá c con ong (loại ong Ý) đang trong thờ i kỳ cho thu hoạ ch mậ t , có giá trị 600.000 đồng của anh Phạ m Văn Á i.”.

Hành vi nêu trên của Hoàng Văn Ng đã đủ yếu tố cấu thành tội

“Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo

không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan công an đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như

các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, coi thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cần xử dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiều số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Đối với Lâm Văn D là người cù ng Hoàng Văn Ngh thự c hiệ n hành

vi trộ m cắ p tà i sả n , tuy nhiên bả n thân Dương là ngườ i chưa có tiề n á n , tiề n sự ; trị giá tài sản trộm cắp chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 27/5/2020 Công an huyệ n Lụ c Ngạ n đã ra quyế t đị nh xử lý hà nh chính đối với Lâm Văn D là có căn cứ . Quá trình điều tra xác định ngoài hành vi trộm cắp tài sản cùng Nghĩa nêu trên , vào ngày 25/3/2020 Dương có hành vi thực hiện hành vi trộm cắp 01 thùng nuôi ong của một người không biế t tên tại thôn Cấ m Vả i - Kiên Lao. Ngày 12/4/2020 Công an xã Kiên Lao đã có quyế t đị nh xử lý vi phạ m hà nh chí nh đối với Dương là phù hợp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với anh Đoàn Văn Tiến , sinh năm 1981 trú tại thôn Phượng

Năng, xã Kiên Thành , huyệ n Lụ c Ngạ n. Quá trình điều tra xá định do T iế n không biế t tà i sả n ( thùng nuôi ong ) mà Ngh và Dương mang đến nhà ngày 29/3/2020 là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Ngạn không xem xét xử lý Tiến là có căn cứ. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biể n số 98H6 - 2577 do

Lâm Văn D sử dụng làm phương tiện chở Hoàng Văn Ng đi trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của bà Trầ n Thị Sinh, sinh năm1957 (là mẹ đẻ của Dương). Ngày 29/3/2020Dương tự ý lấ y xe đi, bà Sinh không biết Dương sử dụng xe mô tô vào mục đích phạm tội nên cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với bà Sinh là có căn cứ. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạ m Văn Á i đã nhậ n lạ i tài sản bị

trộm cắp, không có yêu cầ u đề nghị bồ i thườ ng gì . Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Ngày 30/3/2020 và ngày21/5/2020 Cơ quan cả nh sá t

điề u tra Công an huyệ n Lục Ngạn đã quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Phạm Văn Á i là chủ sở hữ u01 thùng nuôi ong hình hộp bằng gỗ, kích thước(55 x 43 x 35)cm, bên trong có chứ a09 (chín) cầ u ong và cá c con ong(loại ong Ý); trả cho bà Trần Thị Sinh là chủ sở hữ u chiế c xe mô tô biể n sô98H6- 2577́

và bao tơ dứa có đặc điểm trên là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số

sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn lại thuộc diện hộ nghèo, nên cần miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản

2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài

sản”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ng 12 tháng tù. Thời hạn tù

tính từ ngày tạm giam (ngày 30/3/2020). Miễn phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ