- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh L phạm tội Cướp tài sản. - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Tài chính X. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2020/HS-PT Ngày: 15-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.
Các"Thẩm"phán: Ông Nguyễn Hoàng Quí.
Bà Võ Bích Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Phi Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15-5-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 38/2020/TLPT-HS ngày 13-3-2020, đối với bị cáo Nguyễn Minh L, do có kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty Tài chính X, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 34/2020/HSST ngày 5 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận N.
-"Bị"cáo"bị"kháng"cáo:""
Nguyễn Minh L, sinh năm 1997, tại tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn D, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà: Trần Thị Ngọc B; có vợ: Lê Thị T1; tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giam: 4-9-2019. Vắng mặt.
- Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan:"
Công ty Tài chính X.
Địa chỉ: phường K, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Trần Duy H, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: - phường K, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị T1 không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh L và Đặng Thị Ngọc T quen nhau qua mạng xã hội. Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 2-9-2019, L điều khiển xe môtô biển số 95H1-440.78 đến đầu hẻm 114 phường L1, quận N, thành phố Cần Thơ, gặp T, rồi chở T đến nhà nghỉ P, phường L1, quận N.
Sau khi thuê phòng, lợi dụng lúc T vào nhà tắm, L đi ra xe môtô, lấy 01 đoạn gỗ có đầu nhọn và 01 cuộn băng dính, mang vào trong phòng. Khi T lên giường nằm, L lấy đoạn gỗ ra và kề đầu nhọn vào cổ của T, đe dọa và khống chế T. Sau khi đã dùng băng dính quấn bịt miệng, trói tay và chân của T, L dùng khăn tắm, cột 2 tay của T vào giường, rồi giữ lấy dây chuyền và lắc đeo tay của T. Sau đó, L bỏ trốn.
Khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 3-9-2019, L đến tiệm vàng K1, tại thị trấn D, huyện C, tỉnh Hậu Giang, bán số tài sản đã chiếm đoạt thì mới biết là vàng giả. L mang tặng cho Nguyễn Thị Thanh H1 là chủ quán cà phê S, tại thị trấn D.
Theo tin tố giác, Cơ quan điều tra đã truy tìm được L và bắt, tạm giam.
Theo kết quả kiểm tra, số nữ trang của T không phải làm bằng vàng và không có giá trị.
Tại bản án số 34/2020/HS-ST ngày 5-3-2020, Tòa án nhân dân quận N đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Minh L 07 năm tù.
Bị cáo được nhận lại xe môtô Yamaha Exciter màu đỏ đen biển số 95H1-440.78, số máy G3D4E-821699, số khung RLCUG1010JY056266.
Ngoài ra, còn có các quyết định khác về xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.
Sau khi tuyên án sơ thẩm:
- Ngày 16-3-2020, bị cáo kháng cáo, xin giảm mức hình phạt. Sau đó, ngày 23-4-2020, bị cáo đã rút toàn bộ kháng cáo.
- Ngày 11-3-2020, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Tài chính X nộp đơn kháng cáo, yêu cầu được nhận xe môtô của bị cáo, vì đã thế chấp cho công ty, để xử lý thanh toán nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Tài chính X giữ nguyên kháng cáo, không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.
Kiểm sát viên nhận định: Bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Kháng cáo, xin nhận xe môtô để trừ nợ không có căn cứ để chấp nhận, nên đề nghị giữ nguyên Quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị về phần trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự trong vụ án, nên các phần này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành.
Xét kháng cáo của Công ty Tài chính X. Quan hệ vay và thế chấp tài sản giữa Nguyễn Minh L với Công ty Tài chính X không phải là đối tượng giải quyết trong vụ án hình sự này. Nên kháng cáo, yêu cầu được nhận xe môtô mà bị cáo đã thế chấp cho Công ty, để trừ nợ, không có căn cứ để chấp nhận.
Xe môtô nói trên do bị cáo đăng ký đứng tên chủ sở hữu (BL. 95). Tòa án sơ thẩm đã quyết định cho bị cáo nhận lại xe môtô vì không phải là phương tiện phạm tội, cũng không phải do phạm tội mà có. Như vậy là phù hợp. Nên giữ nguyên, như kết luận của Kiểm sát viên.
Nếu có tranh chấp hợp đồng vay và thế chấp tài sản, sẽ được giải quyết theo thủ tục Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Tài chính X. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Minh L được nhận lại xe môtô Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 95H1-440.78, số máy G3D4E-821699, số khung RLCUG1010JY056266, đã thu giữ trong vụ án.
Tranh chấp hợp đồng vay và thế chấp tài sản giữa Công ty Tài chính X với Nguyễn Minh L sẽ được giải quyết theo thủ tục Tố tụng dân sự, khi có khởi kiện.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành.
Công ty Tài chính X phải nộp 300.000đ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Viện KSND TPCT; - Sở tư pháp TPCT; - Công an TPCT; - Cơ quan tố tụng quận N; - Bị cáo và những người TGTT; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA """"""(đã"ký) Nguyễn Văn Trinh |