vanban.org

Bản án 51/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Đức Q.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Đức Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim O. Về con chung: Các con đã thành niên nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Đức Q và Nguyễn Thị Kim O"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Đức Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2020/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 7 năm 2020
“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phú Tra.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Đức Bình

Bà Đỗ Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 837/2019/TLST- HNGĐ ngày 03/12/2019 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Đức Q, sinh năm 1964

Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1973

Nơi cư trú cuối cùng: Khu phố 2, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

(ông Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà O vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tường trình nguyên đơn ông Hoàng Đức Q trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Kim O, sau khi tìm hiểu đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Trảng Bom 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (cũ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/4/1994.

Trong quá trình chung sống, giai đoạn đầu hạnh phúc. Từ đầu năm 2000, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng cãi vã nên bà O đã bỏ nhà đi từ năm 2000 đến nay. Ngày 03/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã có quyết định giải quyết việc dân sự tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim O mất tích, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với bà O.

Về con chung: Ông Q và bà O có 03 con chung là chị Hoàng Lệ Thùy Tr, sinh ngày 24/02/1989, anh Hoàng Đức Nh, sinh ngày 02/12/1990 (chết năm 2012) và anh Hoàng Đức H, sinh ngày 01/10/1999. Hiện tại anh Nh đã chết, chị Tr và anh H đã thành niên, đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Do bận việc nên ông Q có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O mất tích nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định. Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Ông Q, bà O có đăng ký kết hôn tự nguyện nên hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bà O đã bỏ đi từ năm 2000 đến nay. Ngày 03/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã tuyên bố bà O mất tích. Do đó, mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc ly hôn với bà O.

Về con chung: Ông Q và bà O có 03 con chung, trong đó có 01 con chung đã chết năm 2012, 02 con chung đã thành niên và có khả năng lao động, do đó không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: Ông Q khai không có; về án phí: Ông Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Ông Hoàng Đức Q có đơn yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim O. Do đó, ông Q được xác định là nguyên đơn, bà O được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn”. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã mất tích và đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

. Xét yêu cầu khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Q và bà O kết hôn vào năm 2000, trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Trảng Bom 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/4/1994 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các Điều 5, 6, 7 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Nay ông Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà O và được Tòa án thụ lý ngày 03/12/2019 nên áp dụng thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Trong quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn nên bà O đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2000 đến nay. Ngày 03/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã tuyên bố bà O mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số: 09/2019/QĐST-DS ngày 03/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã có hiệu lực pháp luật (bút lục 02, 03). Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các canh việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Như vậy, giữa ông Q và bà O không còn quan tâm chăm sóc nhau, không còn thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, không cùng mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa ông Q và bà O không đạt được nên ông Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà O là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Ông Q và bà O có 03 con chung, trong đó có 01 con chung đã chết năm 2012; 02 con chung đã thành niên và có khả năng lao động và ông Q không yêu cầu, do đó Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ông Q khai không có nợ chung.

.Về án phí: Ông Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 5, 6, 7 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Các Điều 19, 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Đức Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Đức Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim O.

2. Về con chung: Các con đã thành niên nên không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Ông Hoàng Đức Q phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007353 ngày 03/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Ông Q đã nộp đủ án phí.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ