vanban.org

Bản án 51/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Ngọc D, cho bà Phạm Ngọc D ly hôn với ông Hồ Thanh K.

Về nuôi con chung: Bà Phạm Ngọc D và ông Hồ Thanh K có 01 con chung tên Hồ Đăng Kh, sinh ngày 30/11/2008, hiện nay con chung đang sống chung với bà D. Khi ly hôn, giao cho bà Phạm Ngọc D trực tiếp nuôi con chung tên Hồ Đăng Kh, ông Hồ Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Thanh K được quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Ngọc D ly hôn với ông Hồ Thanh K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Ngọc D, cho bà Phạm Ngọc D ly hôn với ông Hồ Thanh K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 06-8-2020.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Kim Sinh.

Ông Đinh Ngọc Dình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc D, sinh năm 1984, địa chỉ: Số nhà 341/2, ấp 2, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.(có mặt)

Bị đơn: Ông Hồ Thanh K, sinh năm 1980, địa chỉ: Số nhà 341/2, ấp 2, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Phạm Ngọc D là nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà D và ông K kết hôn với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Công. Bà D và ông K chung sống hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà D và ông K không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, ông K có mối quan hệ không rõ ràng với người phụ nữ khác. Bà D và ông K không còn sống chung với nhau từ tháng 8 năm 2018 đến nay.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên bà D quyết định ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà D và ông K có 01 con chung tên Hồ Đăng Kh, sinh ngày 30/11/2008, hiện nay con chung đang sống chung với bà D. Nếu được ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, bà D không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Hồ Thanh K đã được Toà án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Phạm Ngọc D và ông Hồ Thanh K kết hôn với nhau vào năm 2006, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Công. Nay bà Phạm Ngọc D yêu cầu ly hôn với ông Hồ Thanh K, căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ông Hồ Thanh K vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với ông Hồ Thanh K.

Bà Phạm Ngọc D và ông Hồ Thanh K chung sống hạnh phúc được hơn 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vả. Các đương sự không hòa giải được mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bà D và ông K không còn sống chung với nhau từ tháng 8 năm 2018 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự là trầm trọng, đời sống chung của các đương sự không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D, cho bà D ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà D và ông K có 01 con chung tên Hồ Đăng Kh, sinh ngày 30/11/2008, hiện nay con chung đang sống chung với bà D. Bà D yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, bà D không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Hồ Đăng Kh mong muốn được sống với bà D. Ông Hồ Thanh K không có ý kiến gì về việc nuôi con. Yêu cầu của bà D phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cho bà D trực tiếp nuôi con chung tên Hồ Đăng Kh, ông Hồ Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Phạm Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, ông Hồ Thanh K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Ngọc D, cho bà Phạm Ngọc D ly hôn với ông Hồ Thanh K.

2. Về nuôi con chung: Bà Phạm Ngọc D và ông Hồ Thanh K có 01 con chung tên Hồ Đăng Kh, sinh ngày 30/11/2008, hiện nay con chung đang sống chung với bà D. Khi ly hôn, giao cho bà Phạm Ngọc D trực tiếp nuôi con chung tên Hồ Đăng Kh, ông Hồ Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Thanh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Phạm Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Phạm Ngọc D đã nộp theo biên lai thu số 0000387, ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ông Hồ Thanh K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bà Phạm Ngọc D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Hồ Thanh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ