- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà hồ thị N yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả nợ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị N
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2020/DS-ST Ngày 02 – 10 - 2020 V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mạnh
2. Ông Trương Minh Mẫn
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 10 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2020/TLST - DS ngày 20 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXST- DS ngày 01 tháng 9 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2020/QĐST – DS ngày 16 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị N , sinh năm 1972 - Có mặt Trú tại: Số 28 Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh ĐăkLăk
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 – vắng mặt
Trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh ĐăkLăk
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hồ Thị N trình bày:
Bà chỉ có quan hệ quên biết vay mượn với bà Nguyễn Thị H. Trước đây bà H có vay tiền của bà N nhiều lần. Vào ngày 07/11/2019 âm lịch bà H có đến nhà bà N chốt nợ xác định bà H còn nợ bà N số tiền 97.880.000 đồng, lãi suất thỏa thuận bằng miệng 10%/năm hẹn bằng miệng đến 30/12/2019 âm lịch bán đất sẽ trả đầy đủ cho bà N và ký xác nhận vào giấy nhận nợ, không thế chấp tài sản gì. Tuy nhiên đến hạn bà N đã đến nhà đòi nhiều lần nhưng bà H tránh mặt không chịu trả, điện thoại thì không bắt máy. Nay bà N khởi kiện yêu cầu bà H có trách nhiệm trả cho bà N số tiền nợ gốc 97.880.000 đồng và lãi suất phát sinh 10%/năm tính từ ngày 07/11/2019 âm lịch cho đến khi bà H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị H đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp vắng bà H và không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đối với Thẩm phán: đã tuân thủ cơ bản đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử.
Đối với Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 280; 463; 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị H trả nợ cho bà Hồ Thị N số tiền nợ gốc 97.880.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Bà Hồ Thị N khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả 97.880.000 đồng tiền gốc và lãi suất phát sinh là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bà Nguyễn Thị H có đăng ký nhân khẩu thường trú tại Thôn 2, xã CưMgar, huyện CưMgar, tỉnh Đắklăk trên nên căn cứ vào theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CưMgar, tỉnh Đăklăk.
Về thủ tục tố tụng: Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành mở phiên tòa là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về số nợ: Vào ngày 07/11/2019 âm lịch bà H có đến nhà bà N chốt nợ xác định bà H còn nợ bà N số tiền 97.880.000 đồng có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Thị H hẹn cuối năm bán đất sẽ trả. Do bà Nguyễn Thị H không tham gia tố tụng nên Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của bà H. Tại kết luận giám định số 111/KLGĐ-PC09 ngày 11/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đăk Lăk đã kết luận chữ viết trong giấy nhận nợ ngày 07/11/2019 của bà Nguyễn Thị H là chữ viết của bà Nguyễn Thị H. Như vậy, việc bà Nguyễn Thị H ký nhận nợ 97.880.000 đồng của bà Hồ Thị N là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ Luật dân sự năm 2015 Việc bà H không trả được nợ khi đến hạn như cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu bà H trả nợ là có căn cứ, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả nợ cho bà Hồ Thị N số tiền 97.880.000 đồng là phù hợp.
Về lãi suất: Theo giấy xác nhận công nợ ngày 07/11/2019 âm lịch, lãi suất do nguyên đơn và bị đơn tự thỏa thuận. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi suất là 10%/ năm (0,83%/tháng) kể từ ngày vay 07/11/2019 (âm lịch) tức ngày 02/12/2019 dương lịch để tính lãi đối với khoản vay 97.880.000 đồng tính đến ngày xét xử. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận cụ thể lãi suất phát sinh được tính như sau:
- Từ ngày 02/12/2019 đến ngày xét xử 02/10/2020 là:
97.880.000 đồng x 305 ngày x 0,83% : 30 = 8.259.441 đồng.
Tổng số tiền mà bị đơn bà H có có trách nhiệm trả cho vợ bà N là 106.139.441 đồng. Trong đó: nợ gốc là 97.880.000 đồng, tiền lãi suất phát sinh là 8.259.441 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 106.139.441 đồng x 5% = 5.306.972 đồng.
Nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về chi phí tố tụng khác:
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Hồ Thị N số tiền 5.040.000đ tiền giám định chữ ký chữ viết bà N đã nộp tạm ứng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự;
Áp dụng khoản 1 khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị N
Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thị N số tiền 106.139.441 đồng. Trong đó: nợ gốc là 97.880.000 đồng, tiền lãi suất phát sinh là 8.259.441 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 5.306.972 đồng tiền án phí dân sư sơ thẩm.
Bà Hồ Thị N không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền 2.447.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2017/0004320 ngày 13/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
Chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thị N số tiền 5.040.000đ chi phí giám định.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh; TA tỉnh ĐắkLắk; - VKS huyện CưM’gar; - Thi hành án dân sự CưM’gar; - Nguyên đơn, bị đơn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Diệu |