vanban.org

Bản án 51/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt Xử phạt bị cáo Trần Minh L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Luận - K1Đ173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2019/HS-ST
Ngày 29/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Thắm;

- Bà Nguyễn kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2019/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2019 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 37B/2019/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Minh L, sinh năm 1995, tại tỉnh Vĩnh Long; hộ khẩu thường trú: Tổ 7, ấp Hòa Thuận, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: Tổ 4, ấp 5, xã Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Mỹ, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị Lài, sinh năm 1971; gia đình bị cáo có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 17/01/2018, Trần Minh L bị Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo chưa đóng phạt.

Nhân thân: Năm 2015, Trần Minh L bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/2/2016, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/8/2015.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Xóm 4, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; tạm trú: Quán bò Ba Mập thuộc ấp Kiến Điền, xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/10/2018, Trần Minh L xin vào làm thuê tại quán bò Ba Mập thuộc ấp Kiến Điền, xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Tại đây L quen biết với anh Nguyễn Văn Ch cùng làm thuê tại quán và ở chung phòng với anh Ch. Đêm 30/10/2018, sau khi xong công việc L và Ch vào phòng để ngủ. Trước khi ngủ anh Ch để chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu bạc 16gb bên cạnh gường ngủ để sạc pin. Khoảng 04 giờ ngày 31/10/2018, L thức dậy thấy anh Ch đang nằm ngủ và chiếc điện thoại đang sạc pin trên đầu giường, L nảy sinh ý định trộm chiếc điện thoại của anh Ch bán lấy tiền tiêu xài. L lén lút dùng tay rút điện thoại di động của anh Ch ra khỏi ổ cắm điện rồi bỏ vào túi quần. Sau khi lấy trộm được điện thoại di động của anh Ch, L đón xe khách đến bến xe Miền Đông thuộc thành phố Hồ Chí Minh bán điện thoại di động này cho một tiệm cầm đồ không rõ tên được 1.000.000 đồng. Số tiền này L tiều xài cá nhân hết.

Sáng ngày 31/10/2018, anh Ch thức dậy thì phát hiện mất tài sản và không thấy L làm việc tại quán nên anh Ch đến Công an xã An Điền để trình báo toàn bộ sự việc.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 24/12/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự thị xã Bến Cát xác định: 01 điện thoại Iphone 6 màu bạc, 16GB đã quan sử dụng có giá 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra Trần Minh L đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình và tự nguyên bồi thường số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) cho anh Nguyễn Văn Ch, anh Ch đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Minh L về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, qua tranh tụng công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm kết tội bị cáo Trần Minh L theo tội danh, điều khoản như Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 06 tháng 3 năm 2019 đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Minh L mức án từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Minh L đã bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Văn Ch, anh Ch không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với bộ dây và cục sạc pin của anh Nguyễn Văn Ch cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ch.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Minh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 06 tháng 3 năm 2019 mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố. Thống nhất với tội danh, điều luật và hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo trình bày rất ân hận đối với hành vi phạm tội của mình, gửi lời xin lỗi bị hại và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sớm về chăm lo cho gia đình, hòa nhập cuộc sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra và tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh L.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Minh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBC ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát mô tả và truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ sáng ngày 31/10/2018, lợi dung lúc anh Nguyễn Văn Ch đang ngủ, bị cáo Trần Minh L đã lén lút lấy trộm điện thoại iphone 6 màu bạc, 16gb và bộ dây sạc pin điện thoại của anh Nguyễn Văn Ch. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Trần Minh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy: Bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Minh L về tội “trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Về tính chất, nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, chấp hành án xong lẽ ra bị cáo phải biết tu chí làm ăn, chăm lo cho gia đình nhưng ngược lại bị cáo không biết sửa đổi bản thân, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xét xử bị cáo mức án thật nghiêm để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về nhân thân: Năm 2015, bị cáo Trần Minh L bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Đến ngày 17/01/2018 bị cáo tiếp tục bị Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo chưa đóng phạt. Nên bị cáo thuộc trường hợp có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đã từng phạm tội, sau khi chấp hành xong hình phạt tù nhưng không biết sửa đổi bản thân lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn dài đủ để răn đe và giáo dục bị cáo thành người có ít cho xã hội, đồng thời khi lượng hình có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Kết luận buộc tội của đại diện Viện kiểm sát về điều luật, tội danh và hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Minh L đã bồi thường xong cho bị hại Nguyễn Văn Ch, anh Ch không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với bộ sạc pin điện thoại Iphone 6 của anh Nguyễn Văn Ch cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ch nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Minh L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ các Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Minh L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ