- Tranh chấp gì? án hình sự — "NTL - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 51/2019/HS-ST Ngày: 19/09/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Khương Ông Trần Ngọc Hải - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên. Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo: NTL, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1978 tại Hải Phòng. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 5A5 khu tập thể A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; chưa có chồng, có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Quyết định số 1135/QĐ-UBND ngày 04/7/2008 và Quyết định số 1072/QĐ-UBND ngày 31/8/2010 đều của Ủy ban nhân dân quận C, Hải Phòng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã được xóa); bị tạm giữ từ ngày 02/6/2019, chuyển tạm giam từ ngày 07/6/2019; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân NTL nghiện ma túy nên khoảng 06 giờ 00 phút ngày 02 tháng 6 năm 2019 NTL điều khiển xe đạp đi từ nhà đến khu vực đường tàu F tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây NTL gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 700.000đồng được 05 gói giấy chứa ma túy. NTL cất 05 gói ma túy vào trong một vỏ bao thuốc lá Thăng Long và giấu vào giữa áo ngực đang mặc rồi điểu khiển xe
đạp đi tìm nơi sử dụng ma túy. Trên đường đi đến khu vực G, quận H, Hải Phòng, NTL dừng lại lấy 02 gói ma túy chia thêm thành 02 gói nhỏ khác rồi cất vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long khác và để vào trong giỏ xe đạp NTL đang đi với mục đích sử dụng 02 gói ma túy này trước, còn 05 gói ma túy NTL giấu vào giữa áo ngực đang mặc như cũ. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày khi đến khu vực đường ray tàu hỏa ở ngõ 23 I, J, K, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Tại bản Kết luận giám định số 251/KLGĐ (Đ6) ngày 04/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2820gam là loại Heroine. Chất bột màu trắng của mẫu 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8306gam là loại Heroine”. Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-HB ngày 28-8-2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố NTL về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho NTL, quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh xử lý sau. Đối với 01 xe đạp mini màu ghi xám, quá trình điều tra xác định được chiếc xe đạp này là của ông D là bố đẻ của bị cáo. Khi bị cáo dùng xe đạp để đi mua ma túy ông D không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe đạp trên cho ông D. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo NTL từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo NTL thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố là đúng. Bị cáo NTL có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp. [2] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo NTL khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy nên NTL thường mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 02/6/2019 bị cáo NTL đi xe đạp đến khu vực đường tàu F, H mua của một phụ nữ không quen biết 05 gói ma túy giá 700.000đồng. Sau khi mua xong NTL cất giấu ma túy vào trong người, đến khu vực G, H thì bị cáo dừng xe, chia nhỏ 02 gói ma túy ra thêm 02 gói ma túy nữa để ở giỏ xe đạp, 05 gói ma túy còn lại bị cáo cất giấu vào người như cũ rồi đi về đến khu vực đường ray tàu hỏa ở ngõ 23 I, J, K thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo NTL nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do nhu cầu sử dụng chất ma túy cho bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo NTL phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. [3] Về tình tiết định khung hình phạt: Xét thấy trong vụ án này, bị cáo NTL có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy qua giám định là 0,2820gam Heroine + 0,8306gam Heroine = 1,1126gam Heroine. Như vậy trong trường hợp này tổng khối lượng của chất ma túy Heroine thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn ăn hối cải; bị cáo có ông nội là liệt sĩ, có mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại về đạo đức con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, tuy nhiên loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội. Nhân thân của bị cáo đã hai lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, lần một với thời hạn 12 tháng, lần hai với thời hạn 24 tháng nhưng bị cáo vẫn tiếp tục tái nghiện điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, lại không có ý thức cải tạo, tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở. [7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. [8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã thu giữ: - Đối với 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì có dấu niêm phong số 251/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. - Đối với số tiền 880.000đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo. Đây là tiền cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. [9] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo NTL phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: NTL 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02 tháng 6 năm 2019.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 251/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Trả lại số tiền 880.000đồng (Tám trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2010/7473 ngày 29/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng). - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo NTL phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 27 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; Nguyễn Thị Minh Phương - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |