- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Q - B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Y và anh T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18-10-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Hương
2. Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thể Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Y – sinh năm 1987. Địa chỉ: số A, Khóm B, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.
2. Bị đơn: anh T – sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Y trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh T tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2016, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống và tài chính nên thường hay cãi nhau, cả hai đã sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay. Nay chị xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không có biện pháp hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: quá trình chung sống chị và anh T có 01 người con chung tên Q, sinh ngày 05/5/2018. Hiện nay cháu Q đang sống cùng chị Y. Khi ly hôn chị Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về phía bị đơn anh T trình bày:
Về hôn nhân: anh thống nhất với lời trình bày của chị Y về vấn đề hôn nhân cũng như mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng. Nay chị Y yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh T xác định quá trình chung sống anh và chị Y có 01 người con chung tên Q, sinh ngày 05/5/2018. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu Q cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con do chị Y không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Về nội dung vụ án: chị Y và anh T chung sống với nhau từ năm 2016 nhưng không đăng ký kết hôn do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Y và anh T. Về con chung: Giao cháu Q, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Y yêu cầu ly hôn với anh T, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T cư trú tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Y và bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Y và anh T.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Y và anh T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2016, là sự kiện có xảy ra trên thực tế, được chị Y và anh T thừa nhận. Tuy nhiên, quá trình sống chung theo chị Y và anh T xác định vợ chồng không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý” và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Đồng thời tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Y, tuyên bố không công nhận chị Y và anh T là vợ chồng.
Về con chung: chị Y và anh T thống nhất xác định quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung tên Q, sinh ngày 05/5/2018. Hiện nay cháu Q đang sống chung cùng chị Y. Khi ly hôn chị Y và anh T thống nhất giao cháu Q cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Y và anh T về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, phù hợp theo quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của chị Y và anh T, giao cháu Q, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Y không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: chị Y và anh T thống nhất xác định vợ chồng chung sống không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: chị Y và anh T thống nhất xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Về án phí: chị Y yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Y và anh T là vợ chồng.
2. Về con chung: giao cháu Q, sinh ngày 05/5/2018 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, (hiện cháu Q đang sống chung cùng chị Y). Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Y không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
6. Về án phí: chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Y đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000837 ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển thu toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi Nhận:
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
- VKSND TP. Bạc Liêu;
- Chi cục THADS TP. Bạc Liêu;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
Phùng Văn Định THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi Nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP. Bạc Liêu; - Chi cục THADS TP. Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Định |