vanban.org

Bản án 51/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh Long an đối với ông Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Q phải trả cho Ngân hàng N- Chi nhánh Long An số tiền vốn vay là 150.000.000 đồng và tiền lãi 61.995.890 đồng (tạm tính đến ngày 22/7/2019). Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp số: 2017008226 ngày 04/5/2017, tài sản thế chấp gồm thửa 1069, 1070 (trên thửa 1070 có một ngôi nhà cấp 4 được xâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng A "TRanh chấp hợp đồng tín dụng" Trịnh Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh Long an đối với ông Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2019/DS-ST
Ngày: 22/7/2019
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhị.

2. Bà Lê Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2019/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N - Chi nhánh Long An: Ông K, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Kim T, chức vụ giám đốc Ngân hàng ủy quyền cho ông Nguyễn Quang T, sinh năm: 1962.Địa chỉ: Số 01 Võ Văn T, phường 2, thành phố A, tỉnh Long An( văn bản ủy quyền ngày ngày 22/4/2019)

2.Bị đơn: Ông Q, sinh năm 1967.Địa chỉ: ấp 2 xã P, huyện T, tỉnh Long an.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà L, sinh năm: 1969. Địa chỉ: ấp 2 xã P, huyện T, tỉnh Long an. Ông T, ông Q có mặt; bà Lvắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2019 và lời trình bày trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh Long An ông Nguyễn Quang T trình bày : Ngày 04/5/2017 ông Q đến Ngân hàng N - Chi nhánh Long An vay số tiền 220.000.000 đồng. Sau quá trình thỏa thuận, hai bên đã ký hợp đồng tín dụng số 201701884, lãi suất 10% năm, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 04/5/2017 hạn trả cuối cùng vào ngày 04/5/2018. Đến hạn ông Q không trả nợ nên toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Hiện nay ông Q còn tổng dư nợ gốc 220.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 22/4/2019 là 53.854.795 đồng.

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng vay tiền ông Q đã thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, thửa số 1069,1070 tờ bản đồ số 02 tại xã Mỹ phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long an theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 651775 ; AG 651773 vào sổ số H 02954/ II-3117, H 02955/II-3117do Ủy ban nhân dân huyện Thủ thừa, tỉnh Long an cấp ngày 22/9/2006. Ngân hàng yêu cầu ông Q phải trả số tiền 220.000.000 đồng vốn và lãi 53.854.795 đồng. Như không trả tiền vay thì phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp đã được thỏa thuận tại hợp đồng chấp số 2017008226 ngày 04/5/2017.

Bị đơn:ông Q trình bày: Ông đồng ý trả nợ vốn và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng và đồng ý phát mãi toàn bộ tài sản như không trả được nợ. Xin trả vào 30/6/2019.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà L trình bày trong đơn xin hoãn phiên tòa ghi ngày 02/7/2019 với lý do xin thêm thời gian để trả tiền cho Ngân hàng và bản tự khai ngày 19/7/2019 bà đồng ý trả nợ Ngân hàng như không trả được số tiền thì đồng ý giao nhà mà bà với ông Q xây dựng trên thửa đất 1070 cho cơ quan có thẩm quyền phát mãi để thi hành án.

Tòa án thụ lý vụ án và tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng trình tự, quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N- Chi nhánh Long An Buộc ông Q phải trả vốn, lãi cho Ngân hàng. Trường hợp không trả được nợ thì phải giao toàn bộ tài sản đã thế chấp cho cơ quan có thẩm quyền phát mãi để thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng N - Chi nhánh Long An khởi kiện ông Q về việc nợ tiền tín dụng được xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Bà L đã được Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo qui định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên.

Xét về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh Long An thì vào ngày 04/5/2017 ông Q đến Ngân hàng N - Chi nhánh Long an vay số tiền 220.000.000 đồng. Sau quá trình thỏa thuận, hai bên đã ký hợp đồng tín dụng số 201701884, lãi suất 10% năm, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 04/5/2017 hạn trả cuối cùng vào ngày 04/5/2018. Đến hạn ông Q không trả nợ nên toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Ông Q còn tổng dư nợ gốc 220.000.000 đồng. Tuy nhiên vào ngày 19/7/2019 ông Q có mang trả cho Ngân hàng số tiền 70.000.000 đồng nên số tiền gốc còn lại 150.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng vay tiền ông Q đã thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, thửa số 1069,1070 tờ bản đồ số 02 tại xã Mỹ phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long an theo giấy chứng nhận số AG 651775 ; AG 651773 vào sổ số H 02954/ II-3117, H 02955/II-3117do Ủy ban nhân dân huyện Thủ thừa, tỉnh Long an cấp ngày 22/9/2006 do ông Q đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngân hàng yêu cầu ông Q phải trả số tiền 150.000.000 đồng vốn. Như không trả tiền vay thì phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp đã được thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp số 2017008226 ngày 04/5/2017. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông Q phải trả nợ cho Ngân hàng với số tiền vốn là 150.000.000 đồng là đúng theo qui định của pháp luật. Tại phiên tòa ông Q thừa nhận còn nợ Ngân hàng 150.000.000 đồng nên Hội đồng chấp nhận.

Đối với phần lãi suất: Hội đồng xét xử xem xét dựa trên những chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy các bên thỏa thuận về lãi trong hạn, nợ quá hạn trong hợp đồng tín dụng số 201701884 ngày 04/5/2017 là đúng pháp luật, phù hợp với qui định luật các tổ chức Ngân hàng, tín dụng. Do đó Ngân hàng yêu cầu ông Q phải thanh toán phần lãi là đúng phù hợp với qui định từ ngày 05/5/2017đến ngày 22/7/2019 là 61.995.890 đồng.

Đối với tài sản thế chấp: Trường hợp ông Q không trả được số tiền thì ông Q phải giao toàn bộ thửa đất số 1069 và thửa 1070, tờ bản đồ số 02, tại ấp 2 xã Mỹ phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An do ông Q đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo văn bản thỏa thuận ngày 03/5/2017 thì hai thửa đất 1069, 1070 là tài sản riêng của ông Q nên ông Q có trách nhiệm trả nợ và giao hai thửa đất trên cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản. Ông Q đồng ý như ông không trả được nợ Ngân hàng thì ông Q đồng ý giao toàn bộ tài sản đã thế chấp cho cơ quan có thẩm quyền xử lý để thi hành án. Tuy nhiên trên thửa đất 1070 có một ngôi nhà cấp 4 do ông Q với bà Lcùng bỏ tiền ra xây dựng bằng petông cốt thép và hiện tại do ông Q, bà Lđang quản lý sử dụng. Tại bản tự khai ngày 19/7/2019 Bà Lđồng ý giao ngôi nhà trên thửa 1070 và vật kiến trúc trên đất cho cơ quan có thẩm quyền để phát mãi thi hành án trong trường hợp ông Q không trả được tiền. Ông Q đồng ý theo yêu cầu của Ngân hàng.

Về chi phí xem xét thẩm định: Ông Q phải chịu 2.000.000đồng. Ngân hàng đã tạm nộp trước nên buộc ông Q phải hoàn trả số tiền 2.000.000đồng cho Ngân hàng.

Về án phí: Ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 30, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh Long an đối với ông Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Q phải trả cho Ngân hàng N- Chi nhánh Long An số tiền vốn vay là 150.000.000 đồng và tiền lãi 61.995.890 đồng (tạm tính đến ngày 22/7/2019).

Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp số: 2017008226 ngày 04/5/2017, tài sản thế chấp gồm thửa 1069, 1070 (trên thửa 1070 có một ngôi nhà cấp 4 được xây dựng petong cốt thép do ông Q và bà Lxây dựng, quản lý, sử dụng) tờ bản đồ số 02, tại xã Mỹ phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 651775; AG 651773 do Ủy ban nhân dân huyện Thủ thừa, tỉnh Long an cấp ngày 22/9/2006 do ông Q đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý để đảm bảo thi hành án. Bà Lđồng ý giao ngôi nhà cho cơ quan có thẩm quyền xử lý để thi hành án như ông Q không trả được tiền Ngân hàng.

Kể từ ngày 23/7/2019, ông Q còn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 201701884 ngày 04/5/2017.

2.Về chi phí xem xét thẩm định: Buộc ông Q phải trả số tiền 2.000.000 đồng cho Ngân hàng N - Chi nhánh Long An.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.599.794 đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N- Chi nhánh Long An với số tiền 6.846.000 đồng theo biên lai số 0001913 nộp ngày 09/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.

4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ