- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị M - Nguyễn H"
- Tòa quyết gì? ăn cứ khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 357, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 688 của B luật Dân sự 2015, khoản 3 Điều 36 Luật Đất đai năm 1993, Điều 50 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của y …
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2019/DS-PT Ngày: 10 – 9 – 2019 V/v tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường.
Các Thẩm phán:
Bà Nguy n Th y Liên.
Bà Lê Th oài Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà uỳnh Th Phương Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh xét xử ph c thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2019/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Đ nh, b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử ph c thẩm số 69/2019/QĐXXPT-DS ngày 05 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguy n Th M, sinh năm 1964; cư tr tại Thôn P, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh (CM).
Người đại diện hợp pháp của à Nguyễn Thị M: Ông Tr n ữu P; tr tại: Số 523 đường N, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguy n Th M (Văn bản ủy quyền số 2038 ngày 30/8/2019) (CM).
- Bị đơn: Ông Nguy n , sinh năm 1968; cư tr tại: Số 128 đường N, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh (CM).
Người ảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của ng Nguyễn H: Ông V
ng N là Luật sư của ông ty Luật TNHHMTV N, thu c đoàn Luật sư tỉnh Bình Đ nh (CM).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Th Tố L, sinh năm 1970; cư tr tại: Số 128 đường N, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh (CM).
2. h V Th Đ, sinh năm 1980; cư tr tại: tổ 6, khu vực 3, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh (CM).
3. h V Th , sinh năm 1981; cư tr tại: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Đ nh (CM).
4. Anh Mai Vinh T, sinh năm 1981 (CM).
5. h Tr n Th Phương , sinh năm 1978 (CM).
6. Ông Mai Vinh T, sinh năm 1960 (VM).
Cùng cư tr tại: Thôn P, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh.
7. UBND huyện T, tỉnh Bình Đ nh; đ a chỉ tại: Số 290 đường N, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh;
Người đại diện hợp pháp của Ủy an nhân dân huyện T: Ông Nguy n Ngọc G - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T; đ a chỉ tại số 381 đường N, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh là người đại diện theo ủy quyền của y ban nhân dân huyện T (Văn bản ủy quyền số 18 ngày 15/9/2017) (VM).
- Người kháng cáo: Bà Nguy n Th M là nguyên đơn và ông Nguy n là b đơn; bà Trương Th Tố L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, trình bày:
ụ Nguy n T (chết năm 1991) là ông ngoại, cụ ù Th K (chết năm 2008) là bà ngoại, không để lại di ch c. ụ Trư c và cụ Khâm có con là bà Nguy n Th N (chết năm 1996) là m bà. Bà N sinh được hai người con ngoại hôn là bà và ông Nguy n , r i m bà lấy ch ng tên ông Võ N (chết năm 1974) sinh được hai người con là ông Võ H (chết l c 04 tuổi) và bà V Th (chết lúc m i sinh). Sau đó m bà lấy ch ng l n nữa tên ông Võ C (chết năm 1991) sinh được hai người con là bà V Th Đ và bà V Th . Tài sản mà cụ T và cụ K để lại g m m t thửa đất có số thửa số 76, tờ bản đ số 82, diện tích 557,9m2 tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T và m t ngôi nhà cấp 4 xây dựng trên thửa đất. Ngu n gốc thửa đất trên là do cha m của cụ Nguy n T là ông Nguy n M và bà Đoàn Th T để lại.
Năm 2006, được sự đ ng ý của bà ngoại là cụ ù Th K và em trai ông Nguy n , vợ ch ng bà xây dựng m t ngôi nhà cấp 4 có diện tích chiều dài 6m, chiều r ng 3,2m r i cho vợ ch ng con trai l n là anh Mai Vinh T và ch Tr n Th Phương ở. Vì nhà chật h p, không có công trình phụ nên vào tháng 9 năm 2015 vợ ch ng con trai bà sửa lại nhà, ph n dư i làm công trình phụ và xây thêm m t t ng nữa để ở.
Thửa đất trên do ông bà ngoại bà đứng tên đăng ký sử dụng nhưng không biết thời gian nào vợ ch ng ông Nguy n tự ý yêu c u cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có sự đ ng ý của bà, đến khi ch em mâu thuẫn, hòa giải tại UBND th trấn T thì bà m i biết ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay bà khởi kiện yêu c u chia thừa kế tài sản mà ông bà ngoại bà chết để lại g m thửa đất số 76, tờ bản đ số 82, diện tích 557,9m2 tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T và chỉ yêu c u được nhận đ ng kỷ ph n của bà nhưng xin nhận bằng hiện vật 5m chiều ngang, chiều dài hết thửa đất, đ ng thời bà yêu c u hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện T cấp cho vợ ch ng ông Nguy n và bà Trương Th Tố L. Bà đ ng ý thanh toán lại cho ông H giá tr tài sản trên đất và giá tr nâng nền v i chiều cao nâng nền là 2,5m. Ngoài ra bà không có yêu c u gì khác.
Tại ản tự khai, iên ản lấy lời khai, iên ản hòa giải và trong quá trình xét xử ị đơn là ông Nguyễn H, trình bày:
Ông thống nhất về quan hệ gia đình, tài sản thừa kế mà ông bà ngoại ông chết để lại và ngu n gốc thửa đất số 76, tờ bản đ số 82, diện tích 557,9m2 tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T, như bà Nguy n Th M trình bày. Vì ông là cháu trai duy nhất nên ông bà ngoại nói v i anh ch em của ông và hàng xóm là để lại toàn b khu vườn cho ông thờ c ng ông bà. Ngôi nhà cấp 4 mà ông bà ngoại để lại có diện tích khoảng 150m2 xây dựng năm 1968 đã cũ nát nên năm 1993 ông sửa lại và năm 2014 thì ông làm lại m i hoàn toàn. ũng trong năm 1993, bà ngoại cho ông ph n đất này nên ông là người đăng ký kê khai sử dụng đất.
Năm 2002 bà ngoại ông đ ng ý cho ông đứng tên đăng ký quyền sử dụng đất, ông cũng có trao đổi v i các ch em ru t và không ai có ý kiến. Khi ông làm giấy tờ đề ngh xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chính quyền đ a phương niêm yết công khai và không ai có khiếu nại gì. Mặc khác, vào năm 2006, sau khi ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà M nhờ ông thế chấp sổ đỏ vay h cho bà 70.000.000 đ ng để mua xe tải, đến năm 2008 thì bà bán xe trả lại tiền. Việc Nhà nư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ ch ng ông là đ ng trình tự, thủ tục theo quy đ nh của pháp luật và bà M cũng biết về sự việc này nên ông không chấp nhận yêu c u của bà Mlà chia thừa kế thửa đất số 76, tờ bản đ số 82, diện tích 557,9m2 tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện T cấp cho vợ ch ng ông.
Năm 2005 bà M về xin bà ngoại cho che tạm quán để bán b n, vì tình cảm nên ông tham gia xây giùm nhà quán có chiều r ng khoảng 3,5m và chiều dài khoảng 7m để bà M có chỗ bán b n kiếm sống. Nhưng từ l c xây nhà đến nay, bà M không ở mà giao cho con trai là anh Mai Vinh T và vợ là ch Tr n Th Phương H ở. Toàn b thửa đất do vợ ch ng ông đứng tên nên nếu bà M không ở nữa thì giao lại nhà cho ông và ông thối tiền lại.
Quá trình quản lý, sử dụng khu vườn ông đã nhiều l n b i tr c, nâng cao khu vườn v i đ cao khoảng 2,5m và bốc m ông cố là ông Nguy n M có diện tích 12m2để cải táng nơi khác, số tiền cải táng là 15.000.000 đ ng. Nếu bà M được chia thừa kế khu vườn trên thì ông yêu c u Tòa bu c bà M thối lại tiền nâng nền và tiền cải táng ngôi m theo kỷ ph n được nhận. Ngoài ra ông yêu c u tính công sức trông coi, bảo quản di sản cho ông.
Tại ản tự khai, iên ản lấy lời khai, iên ản hòa giải và trong quá trình xét xử người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Tố L, trình bày:
Bà thống nhất v i lời khai của ch ng bà về quan hệ gia đình, về tài sản mà cụ T và cụ K chết để lại và quá trình quản lý sử dụng những tài sản trên. Bà không đ ng ý yêu c u của bà M là chia thừa kế khu vườn mà ông bà ngoại ông H để lại và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nhà nư c cấp cho vợ ch ng bà. Khi còn sống, ông ngoại có viết giấy để vợ ch ng bà được sử dụng nhà đất của ông bà ngoại nhưng vào năm 2009 thì lũ lụt đã làm hư giấy này.
Tại ản tự khai, iên ản lấy lời khai, iên ản hòa giải và trong quá trình xét xử người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Đ và chị Võ Thị H thống nhất, trình bày:
ai ch thống nhất v i lời khai của bà Nguy n Th M về quan hệ gia đình, về tài sản mà ông bà ngoại hai ch chết để lại và quá trình quản lý, sử dụng khu vườn trên như lời khai của bà M trình bày. Nay bà Myêu c u chia thừa kế thửa đất số 76, tờ bản đ số 82, diện tích 557,9m2 tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T, tỉnh Bình Đ nh và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nư c cấp cho vợ ch ng Nguy n thì hai ch không có ý kiến và yêu c u gì. Nếu được chia thì hai ch từ chối nhận kỷ ph n của mình.
Tại ản tự khai, iên ản lấy lời khai, iên ản hòa giải và trong quá trình xét xử người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Vinh T, trình bày:
Ông thống nhất v i lời khai của vợ ông về việc bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà cấp 4 năm 2006 trong khu vườn đang tranh chấp. Nay ông yêu c u Tòa giải quyết chia thừa kế khu vườn trên cho vợ ông theo yêu c u của bà M.
Tại ản tự khai, iên ản lấy lời khai, iên ản hòa giải và trong quá trình xét xử người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Vinh T và chị Trần Thị Phương H thống nhất, trình bày:
Năm 2006 cha m anh ch có bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà cấp 4 trên khu vườn đang tranh chấp và cho vợ ch ng anh ch ở. Đến tháng 9 năm 2015 thì vợ ch ng anh ch bỏ tiền ra sửa lại nhà, xây thêm m t t ng để ở. Nay bà M và ông H tranh chấp về khu vườn trên thì vợ ch ng anh ch không có ý kiến gì chỉ yêu c u tiếp tục ở ngôi nhà trên, nếu tranh chấp có liên quan đến ngôi nhà trên thì yêu c u đền bù số tiền mà vợ ch ng anh ch đã bỏ ra để sửa nhà.
Tại ản tự khai trong quá trình xét xử người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T do ng Nguyễn Ngọc Giáo đại diện theo ủy quyền, trình bày:
Thửa đất số 76, tờ bản đ số 82, diện tích 557,9m2tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T, có ngu n gốc của ông Nguy n Tvà bà ù Th K. Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ ch ng ông Nguy n là đ ng quy đ nh pháp luật. Việc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy đ nh nhưng việc xác đ nh hạn mức đất ở là không đ ng quy đ nh do sai sót trong việc thực hiện chủ trương cấp đổi theo dự án Vlap.
Nay việc xác đ nh hàng thừa kế theo pháp luật thì đề ngh Tòa án nhân dân huyện T giải quyết theo thẩm quyền; việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đ ng quy đ nh về việc xác đ nh diện tích đất ở nên UBND huyện thống nhất hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ ch ng ông Nguy n và bà Trương Th Tố L.
Bản án số 31/2019/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định quyết định:
ủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 60 ngày 10/9/2003 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI655782 ngày 17 tháng 11 năm 2011 của UBND huyện T cấp cho ông Nguy n và bà Trương Th Tố L.
Chia giao cho bà Nguy n Th M được quyền quản lý, sử dụng 179m2 đất. Cùng các tài sản trên đất do ông H và bà L xây dựng g m: Nhà quán, nhà vệ sinh. Trên đất còn có ngôi nhà diện tích 44,88m2 do vợ ch ng bà Nguy n Th M, ông Mai Vinh T xây dựng và vợ ch ng anh Mai Vinh T, ch Nguy n Th Phương ảo tu sửa và quản lý, sử dụng.
Chia giao cho ông Nguy n được quản lý, sử dụng m t giếng nư c đào và 378,9m2đất. iện nay vợ ch ng ông H, bà L đang quản lý, sử dụng thửa đất và giếng nư c này. Trên đất có ngôi nhà do vợ ch ng ông H, bà L xây dựng.
Bu c bà Mphải thanh toán lại cho ông H 319.708.000 đ ng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết đ nh về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí đ nh giá và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 16/4/2019, bà Nguy n Th M kháng cáo yêu c u chia hai thửa đất.
Ngày 10/4/2019, ông Nguy n , bà Trương Th Tố L kháng cáo yêu c u cấp ph c thẩm bác toàn b yêu c u khởi kiện của bà M.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đ ng quy đ nh của pháp luật tố tụng; đ ng thời đề ngh hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1 n sơ thẩm xác thửa số 76, tờ bản đ số 82, tọa lạc tại thôn P, th trấn T, huyện T là di sản của cụ T, cụ K chết để lại cho bà Nam là con gái duy nhất của hai cụ và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 60 ngày 10/9/2003 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI655782 ngày 17 tháng 11 năm 2011 của UBND huyện T cấp cho ông H, bà L là có căn cứ đ ng quy đ nh pháp luật. Bởi l , ngu n gốc đất là của cụ T và cụ K quản lý sử dụng từ trư c năm 1975 cho đến khi các cụ chết; vợ ch ng ông H sống chung v i các cụ; vào ngày 08/01/2003 ông tự làm giấy xác nhận ủy quyền thừa kế là con trai trai duy nhất của bà N để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong khi đó bà Nam có bà M, bà Đ và bà là con nhưng không có ý kiến của những người này là không đ ng sự thật. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của ông H, bà Lvề ph n này.
Phân chia di sản của cụ T, cụ K và bà N:
ác bên đương sự đều thống nhất diện tích đo đạc thực tế hiện nay là 519m2 (Trong đó 473m2đất ở được xác đ nh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 60 ngày 10/9/2003, còn 46m2đất vườn đây là ph n diện tích tăng thêm) nên bà M, ông H, bà Đ, bà mỗi người được nhận 129,7m2 (519m2/4); ph n bà Đ, bà H được nhận thừa kế giao cho ông H, như vậy ông H được quyền sử dụng 389,2m2 đất (Trong đó 354,7m2đất ở, 34,5m2đất vườn); có tứ cận, bà M được quyền sử dụng 129,7m2 đất (Trong đó 118,2m2 đất ở, 11,5m2đất vườn)
Để đảm bảo giá tr sử dụng vật kiến tr c g n liền v i đất do các bên đương sự đã xây dựng và tỉ lệ ph n được nhận thừa kế nên phân chia theo hiện vật cụ thể như sau:
Giao cho bà Nguy n Th M được quyền sử dụng 129,7m2 đất (Trong đó 118,2m2 đất ở, 11,5m2đất vườn); có tứ cận: B c giáp ph n đất chia giao cho ông H; Tây giáp đường Quốc l 19; Đông giáp thửa đất số 77, 78; Nam giáp thửa đất số 86 và quyền sở hữu các tài sản g n liền v i đất do ông H và bà L xây dựng g m: Nhà quán, nhà vệ sinh, tường rào; trên đất còn có nhà diện tích 23m2 do vợ ch ng bà Nguy n Th M, ông Mai Vinh T xây dựng và vợ ch ng anh Mai Vinh T, ch Nguy n Th Phương tu sửa và quản lý, sử dụng.
Giao cho ông Nguy n được quyền sử dụng 389,2m2đất (Trong đó 354,7m2 đất ở, 34,5m2 đất vườn); có tứ cận: B c giáp thửa đất số 75, 68; Tây giáp đường Quốc l 19; Đông giáp thửa đất 77; Nam giáp đất chia giao cho bà M; trên đất có vật kiến tr c g n liền do vợ ch ng ông H, bà L xây dựng.
Trên ph n đất giao cho bà M có nhà quán, nhà vệ sinh, tường rào do vợ ch ng ông Hxây dựng và vơ ch ng ông H đã cải táng m cụ Nguy n M, trông coi, bảo quản di sản, nâng nền nên bà M phải thanh toán lại cho vợ ch ng ông H: 122.288.881đ {Trong đó 3.750.000đ (15.000.000 đ ng/4) cải táng m cụ Nguy n Mai + 10.000.000đ chi phí trông coi, bảo quản di sản + 20.000.000đ (129,7m2 - 23m2 x 2,5m x 75.000 đ ng/m3) nâng nền + 23.578.065đ (11,9m2 x 2.331.000đ x 85%) nhà vệ sinh + 22.486.560đ (129,7m2 - 23m2 - 11,9m2 x 593.000 đ ng x 40%) nhà quán + 42.464.256đ (18,81m + 5,23m x 4m x 552.000 đ ng x 80%) tường rào}.
Tòa đã chi phí đ nh giá 17.6000.000đ theo quy đ nh Điều 158, 165 B luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì ông H phải ch u 13.200.000đ, bà M phải ch u 4.400.000đ; ông H tạm ứng 12.000.000đ, bà M tạm ứng 5.600.000đ nên ông H hoàn lại cho bà M 1.200.000 đ ng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án thì bà Mận phải ch u 343.820.000 đ ng; ông H phải ch u 131.461.000 đ ng.
Do sửa bản án sơ thẩm nên theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 29 Ngh quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc h i khóa 14 thì bà M, ông H, bà L không phải án phí dân sự ph c thẩm.
[6 Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu đề ngh hủy bản án sơ thẩm v i do không thu c thẩm quyền là không đ ng Mục 2 ph n IV Giải đáp 01/GĐ– TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân Tối cao nên không chấp nhận, vì vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý ngày 17/6/2016 trư c ngày 01/7/2016 nên Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
ăn cứ khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 357, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 688 của B luật Dân sự 2015, khoản 3 Điều 36 Luật Đất đai năm 1993, Điều 50 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của y ban thường vụ Quốc h i khóa 14; khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận m t ph n kháng cáo của ông Nguy n , bà Trương Th Tố L; không chấp nhận kháng cáo của bà Nguy n Th M, sửa bản án sơ thẩm.
1. ủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 60 ngày 10/9/2003 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI655782 ngày 17 tháng 11 năm 2011 của y ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguy n và bà Trương Th Tố L.
2. Ông Nguy n , bà Trương Th Tố L giao cho bà Nguy n Th M được quyền sử dụng 129,7m2 đất (Trong đó 118,2m2 đất ở, 11,5m2 đất vườn); có tứ cận: B c giáp ph n đất chia giao cho ông H; Tây giáp đường Quốc l 19; Đông giáp thửa đất số 77, 78; Nam giáp thửa đất số 86 và quyền sở hữu các tài sản g n liền v i đất do ông H và bà L xây dựng g m: Nhà quán, nhà vệ sinh, tường rào (có sơ đ kèm theo).
3. Giao cho ông Nguy n được sử dụng 389,2m2 đất (Trong đó 354,7m2 đất ở, 34,5m2 đất vườn); có tứ cận: B c giáp thửa đất số 75, 68; Tây giáp đường Quốc l 19; Đông giáp thửa đất 77 dài; Nam giáp đất chia giao cho bà M (có sơ đ kèm theo).
4. Bu c bà Nguy n Th M phải thanh toán lại cho ông Nguy n , bà Trương Th Tố L 122.288.881 đ ng (M t trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn tám trăm tám mươi m t đ ng).
5. Về án phí, chi phí xem xét tại chỗ và đ nh giá:
5.1. Bà Nguy n Th M phải ch u 43.820.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 1.550.000 đ ng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002203 ngày 21/3/2017 và 0001822 ngày 16/6/2016 của hi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bình Đ nh; bà Mcòn phải n p 42.270.000 đ ng (Bốn mươi hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đ ng).
5.2. Ông Nguy n phải ch u 131.461.000 đ ng (M t trăm ba mươi m t triệu bốn trăm sáu mươi m t nghìn đ ng) án phí dân sự sơ thẩm.
5.3. Bà Nguy n Th M được nhận lại 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) tiền tạm ứng đã n p theo biên lai thu tiền số 00029515 ngày 18/4/2019 của hi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phư c.
5.4. Ông Nguy n được nhận lại 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) tiền tạm ứng đã n p theo biên lai thu tiền số 0002912 ngày 17/4/2019 của hi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phư c.
5.5. Bà Trương Th Tố L được nhận lại 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) tiền tạm ứng đã n p theo biên lai thu tiền số 0002913 ngày 17/4/2019 của hi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phư c.
5.6. Bu c ông Nguy n hoàn lại cho bà Nguy n Th M 1.200.000 đ ng (M t triệu hai trăm nghìn đ ng) chi phí đ nh giá tài sản.
6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại Điều 357, Điều 468 B luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy đ nh khác.
6.2. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Đ nh; - TAND uyện T; - CCTHADS uyện T; - ác đương sự; - Lưu h sơ; Tòa dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thường |