vanban.org

Bản án 51/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 26/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Văn T và bị hại Luân Văn T1 tại phiên tòa: Bị cáo Lý Văn T phải bồi thường cho A Luân Văn T1 tổng số tiền 8.000.000đ (Tám triệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 51 /2018/HSST
Ngày 26/12/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lục Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Hữu;

2. Bà Bế Thị Hiếu.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với:

- Bị cáo Lý Văn T, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 22 tháng 6 năm 1993 tại phường D, Thành phố C, Cao Bằng;

Nơi cư trú: Tổ 8, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Lý Văn T, sinh năm 1960; Con bà Triệu Thị N, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; A, chị, em ruột: Bị cáo có sáu chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: A Luân Văn T1, sinh ngày 24/01/1999.

Địa chỉ: xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. A Nông Mã Tuấn A, sinh ngày 19/01/1999.

Địa chỉ: Tổ 6, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Có mặt tại phiên tòa.

2. A Nông Văn P, sinh ngày 03/11/1996.

Địa chỉ: xóm L, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Có mặt tại phiên tòa.

3. A Nông Văn V, sinh ngày 12/6/1989.

Địa chỉ: xóm L, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 21/10/2018 sau khi ăn lẩu tại quán Cung Đình ở Nà Cạn, thành phố Cao Bằng đến khoảng 14 giờ Lý Văn T, sinh năm 1993, trú tại Tổ 8, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng rủ Nông Mã Tuấn A, sinh năm 1999, trú tại Tổ 6, Phường D là người cùng nhau ăn lẩu tại quán đi vào xóm N, xã H, huyện Hòa An để hỏi về chuyện tình cảm cá nhân. Cả hai người đi bằng xe máy của Tuấn A (biển kiểm soát 11B1-108.92), trước khi đi T vào nhà mang theo 01 (một) gậy rút ba khúc bằng kim loại và 01 (một) con dao (loại dao phát cỏ) kẹp vào giá để đồ phía trước yên xe, T điều khiển xe chở Tuấn A đi vào xã Hồng Nam. Khi đến xóm N, một mình T đi vào nhà của Anh Phạm Như T nói chuyện và xảy ra xô xát nhưng được can ngăn kịp thời nên cả Tuấn A và T đi xe ra về. Khi về đến dốc Pác Tao, Kẹm Coỏng, xã Hồng Nam, huyện Hòa An thì cả hai gặp Luân Văn T1, sinh năm 1999, trú tại xóm K, xã Hồng Nam đang ngồi trên xe máy nghe điện thoại, T hỏi “nhìn cái đéo gì”, T1 không trả lời, cả hai đi qua chỗ T1 ngồi khoảng 20 mét thì T quay xe lại hỏi T1 là “Mày nhìn đểu tao à”, T1 vẫn không nói gì, T liền cầm gậy rút đập vào đầu T1 (lúc này T1 vẫn đang đội mũ bảo hiểm, loại mũ lưới trai) làm mũ bảo hiểm bị vỡ và đầu T1 chảy máu, sau đó T còn dùng gậy đập tiếp một phát vào lưng của T1. Đối với Nông Mã Tuấn A lúc xảy ra sự việc chỉ đứng cạnh xe máy cũng cầm con dao tiến về phía T1 giơ lên dọa chém nhưng không chém, sau đó Tuấn A cùng T lên xe đi về thành phố Cao Bằng. Còn Luân Văn T1 sau khi bị đánh thì ngồi ôm đầu được khoảng 10 phút thì được người dân đưa vào Trạm y tế xã Hồng Nam cấp cứu, sau đó T1 đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Ngày 26/10/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An ra quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Luân Văn T1. Tại bản kết luận giám định thương tích số 098/18/TgT ngày 29/10/2018 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Cao Bằng kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Luân Văn T1 là 06% (Sáu phần trăm).

Do có hành vi nêu trên, tại Bản Cáo trạng số 48/CT-VKS-HA ngày 28/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lý Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, đúng tội, bị cáo khai sự việc xảy ra là do bị cáo đã uống nhiều rượu và sẵn bực tức về chuyện tình cảm cá nhân nên khi từ xóm Nà Lìn đi về gặp T1 đang ngồi trên xe nhìn bị cáo nên bị cáo nghĩ mình bị nhìn đểu, bị cáo đã dùng gậy rút ba khúc đánh vào đầu của T1 gây thương tích. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Luân Văn T1 khai nhận: Bản thân và bị cáo không quen biết và không có mâu thuẫn gì, sự việc xảy ra đúng như bị cáo đã trình bày tại phiên tòa, sau khi bị đánh chảy máu đầu A được A Nông Văn P và A Nông Văn V là người ở xóm Lũng Cải, xã Hồng Nam đưa đi Trạm y tế xã Hồng Nam cấp cứu, băng bó vết thương, sau đó A tự điều trị tại nhà. Nay A yêu cầu bị cáo Lý Văn T phải bồi thường cho A các khoản sau: Tiền giám định tư pháp, tiền bồi dưỡng giám định tư pháp, tiền chẩn đoán hình ảnh, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền thuốc men với tổng số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Bị cáo Lý Văn T nhất trí với mức bồi thường mà bị hại đưa ra.

Người làm chứng Nông Mã Tuấn A trình bày: Buồi chiều ngày 21/10/2018 A có được cùng anh Lý Văn T đi vào trong xã Hồng Nam để giải quyết việc riêng của anh T, cả hai đi bằng xe máy của A, T là người điều khiển, trước khi đi A thấy anh T có mang theo một gậy rút bằng kim loại và một con dao, A có hỏi anh T mang theo làm gì nhưng anh T không trả lời. Khi đi đến xóm Nà Lìn, A chỉ đứng ở ngoài không được tham gia vào cuộc nói chuyện giữa anh T và A Phạm Như Thuần, A có nhìn thấy anh T ném chùm chìa khóa và định tát anh Thuần nhưng được mọi người can ngăn nên anh T lại điều khiển xe cùng A đi về. Khi đến dốc Pác Tao, Kẹm Coỏng thì có gặp một người thanh niên đang ngồi trên xe, A thấy anh T hỏi và quay lại dùng gậy rút đánh vào đầu và lưng của người thanh niên đó, khi đó A chỉ đứng ở xe, thấy người thanh niên ngồi xuống đường A có được cầm con dao ở giá để đồ phía trước yên xe đến giơ lên dọa chém nhưng A không được chém người thanh niên đó. Sự việc kết thúc A và anh T ra thành phố Cao Bằng và về nhà.

Người làm chứng Nông Văn V và Nông Văn P trình bày: khoảng 16 giờ ngày 21/10/2018 các A đi chợ ngoài thành phố Cao Bằng về đến dốc Pác Tao, Kẹm Coỏng, xã Hồng Nam thì gặp anh Luân Văn T1 đang ôm đầu chảy máu ngồi ở ven đường. Hai anh dừng xe lại hỏi thì được T1 cho biết là bị đánh, hai anh tiến hành sơ cứu và đưa T1 đi vào Trạm y tế xã Hồng Nam điều trị vết thương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo với mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh xám, vành lưới trai đã bị vỡ nhiều mảnh; 01 (một) gậy rút ba khúc màu đen bằng kim loại, dài khoảng 70cm; 01 (một) con dao (loại dao phát cỏ) dài khoảng 45cm, cán dao màu đỏ dài khoảng 20cm, lưỡi dao cong dài khoảng 25cm.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay giữa bị cáo và bị hại đã thoả thuận được mức bồi thường là 8.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận đó.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và lời khai của những người làm chứng; phù hợp với sơ đồ xác định hiện trường; phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y thương tích, vật chứng thu được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 21/10/2018, sau khi cùng Nông Mã Tuấn A đến nhà Phạm Như Thuần ở xóm N, xã Hồng Nam, huyện Hòa An để giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm cá nhân, khi quay về đến dốc Pác Tao, Kẹm Coỏng, xã Hồng Nam thì bị cáo cùng Nông Mã Tuấn A gặp Luân Văn T1 đang ngồi nghe điện thoại. Do cho rằng Luân Văn T1 nhìn đểu mình nên bị cáo đã dùng gậy rút ba khúc bằng kim loại mang sẵn theo người đánh một phát vào đầu và một phát vào lưng của T1, hậu quả làm cho Luân Văn T1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06 % (Sáu phần trăm). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” vi phạm Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015.

Về tình tiết định khung hình phạt: Căn cứ tỷ lệ thương tật và hung khí mà bị cáo sử dụng để gây thương tích cho anh Luân Văn T1 theo kết luận giám định nói trên và theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 Mục 3 của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ vào nội dung sự việc, bị hại không quen biết cũng không có hành động khiêu khích với bị cáo nhưng bị cáo vẫn dùng gậy đánh hai phát vào đầu và lưng của bị hại gây thương tích, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe người khác. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, Do vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự về việc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và trường giáo dưỡng, mặc dù đã được xóa nhưng cũng cần phải xem xét về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt, đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, căn cứ quy định của pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình nhân thân. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định và xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, ý thức xử sự giữa người với người, đặc biệt phải tôn trọng tính mạng, sức khỏe của người khác đã được pháp luật bảo vệ, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường, theo đó bị cáo Lý Văn T phải bồi thường cho bị hại Luân Văn T1 tổng số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Xét thấy, đây là quan hệ dân sự, các bên tự nguyện cam kết, thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử công nhận trong bản án.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh xám, vành lưỡi trai đã bị vỡ nhiều mảnh; 01 (một) gậy rút ba khúc màu đen bằng kim loại, dài khoảng 70cm; 01 (một) con dao (loại dao phát cỏ) dài khoảng 45cm, cán dao màu đỏ dài khoảng 20cm, lưỡi dao cong dài khoảng 25cm. Đây là công cụ mà bị cáo gây thương tích cho bị hại nên căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường (8.000.000đ x 5%) là 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Các Điều 584, 585, 590, 357 và 468 Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Văn T và bị hại Luân Văn T1 tại phiên tòa: Bị cáo Lý Văn T phải bồi thường cho A Luân Văn T1 tổng số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Quyết định về phần bồi thường thiệt hại về sức khỏe của Bản án này được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu xA xám, vành lưỡi trai đã bị vỡ nhiều mảnh; 01 (một) gậy rút ba khúc màu đen bằng kim loại, dài khoảng 70cm; 01 (một) con dao (loại dao phát cỏ) dài khoảng 45cm, cán dao màu đỏ dài khoảng 20cm, lưỡi dao cong dài khoảng 25cm.

(Vật chứng hiện nay đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 10 ngày 28/11/2018)

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) sung vào công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai, Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ