vanban.org

Bản án 51/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 22/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2018/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2018/HSPT
Ngày: 22-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thơ;

Các Thẩm phán: + Ông Lê Thanh Vân;

+ Bà Trần Thị Thu Hằng;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:Ông Hồ Minh Hiếu Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2018/TLPT-HS ngày 23 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2018/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1981, tại Tiền Giang;

Nơi cư trú: ấp Bình T, xã Bình Ph, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Thợ cửa sắt; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Tuyết M và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/12/2016, chuyển tạm giam ngày 31/12/2016 cho đến này. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 21/12/2016 Nguyễn Văn D chuẩn bị sẵn 01 tép ma túy (loại ma túy đá) và đi đến đầu hẻm công cộng cạnh tiệm tạp hóa cô Xiêm để bán cho Võ Nguyễn Anh Kh. Khi thấy Kh, D lấy tép ma túy để xuống đất cách chổ Kh đang đứng khoảng 01 mét rồi D kêu Kh đưa tiền, Võ Nguyễn Anh Kh lấy tép ma túy bỏ vào túi quần và đang lấy 500.000 đồng để trả cho Nguyễn Văn D thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn D và Võ Nguyễn Anh Kh còn khai nhận ngoài lần mua bán trái phép chất ma túy đã bị bắt quả tang thì trước đó khoảng 10 ngày, Nguyễn Văn D còn có 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Võ Nguyễn Anh Kh, mỗi lần bán một tép ma túy (loại ma túy đá) với giá 500.000 đồng/tép. Địa điểm bán cũng tại đầu hẻm công cộng cạnh tiệm tạp hóa cô Xiêm. Ngoài ra, Nguyễn Văn D còn khai nhận 03 tép ma túy mà D bán cho Võ Nguyễn Anh Kh là của Phạm Thị Diễm H. Sau khi Phạm Thị Diễm H liên hệ mua bán ma túy qua điện thoại di động với Võ Nguyễn Anh Kh thì H đưa ma túy cho Nguyễn Văn D đi giao cho Kh và D nhận tiền của Kh về đưa lại cho H. Nguyễn Văn D đã giao ma túy cho Kh được 03 lần, mỗi lần 01 tép (loại ma túy đá) với giá 500.000 đồng/tép.

Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ trong túi quần của Võ Nguyễn Anh Kh 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, bên trong chứa tinh thể trong suốt do vừa mua của Nguyễn Văn D và tiền Việt Nam là 500.000 đồng; Thu trong người của Nguyễn Văn D 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại N1200 và tiền Việt Nam là 800.000 đồng.

Ngoài ra, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị Diễm H do bà Nguyễn Thị N làm chủ hộ đã thu giữ vật chứng gồm:

- 01 điện thoại di động hiệu Masstel, model A126, màu đỏ đen dùng để giao dịch mua bán ma túy;

- 01 cân tiểu ly, trên máy có chữ Amput;

- 02 cục pin cân tiểu ly hiệu Panasonic chưa sử dụng và 01 cục pin cân tiểu ly hiệu Panasonic đã qua sử dụng;

- 10 đoạn ống hút dài khoảng 05cm, một đầu nhọn;

- 32 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín một đầu dài khoảng 02cm bên trong không chứa vật gì;

- 150 bịch nylon kích cỡ khoảng 2cm x 1cm hàn kín, còn hở 01 đầu. Bên trong các bịch nylon không chứa vật gì;

- 04 bịch nylon hở một đầu kích cỡ khoảng 06cm x 3cm bên trong không chứa vật gì.

Theo kết luận giám định số 56/KLGĐ-PC54 NGÀY 24/12/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định: Mẫu tinh thể trong suốt đựng trong một gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn D, Võ Nguyễn Anh Kh và hình dấu tròn ghi Công an xã Bình Ph – Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang gửi giám định có trọng lượng là 0,2483gam, có Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, số thứ tự 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ).

Đối với Phạm Thị Diễm H có hành vi giao ma túy cho Nguyễn Văn D bán cho Võ Nguyễn Anh Kh nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thì Phạm Thị Diễm H không thừa nhận nguồn gốc 03 bịch ma túy này là của H.

Đối với Võ Nguyễn Anh Kh có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2018/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng: Điểm b, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22/12/2016.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 22/3/2018, bị cáo Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo D cho rằng bị cáo không có mua bán ma túy nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là oan. Đồng thời, bị cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang xác định cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ không oan sai. Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo D cho rằng, vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 21/12/2016 bị cáo đi mua sửa cho con bị cáo tại tiệm tạp hóa cô Xiêm ngụ tại ấp Bình T, xã Bình Ph, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì công an đến bắt bị cáo và nói rằng bị cáo bán ma túy cho Kh. Lời khai nại của bị cáo là không có cơ sở. Bởi lẽ căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, bản tự khai do chính bị cáo viết ra đều xác định vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 21/12/2016 bị cáo chuẩn bị sẵn 01 tép ma túy để bán cho Võ Nguyễn Anh Kh. Khi thấy Kh, D lấy tép ma túy để xuống đất cách chổ Kh đứng khoảng 01 mét rồi kêu Kh đưa tiền. Khi Kh lấy tép ma túy bỏ vào túi quần và lấy 500.000đồng để trả cho D thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, D và Kh còn khai nhận ngoài lần mua bán này thì D còn 02 lần bán ma túy cho Kh, mỗi lần bán với giá 500.000 đồng/tép. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi bổ sung 2009 là có căn cứ, đúng pháp luật không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy. Bị cáo có đủ khả năng để nhận thức được rằng, ma túy là chất gây nghiện nếu sử dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, làm gia tăng các loại tội phạm và là nguyên nhân lây lan căn bệnh thế kỷ. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xử phạt bị cáo với mức án nêu trên là phù hợp với qui định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo D cũng không thành khẩn khai báo, không có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét lời đề nghị của đại diện kiểm sát là có cơ sở hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355, điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2018/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22/12/2016.

2/ Về án phí: Bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ