vanban.org

Bản án 51/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 24/08/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Lâm Sà V. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 19/2018/HS-ST, ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể:

Xử phạt bị cáo Lâm Sà V (tên gọi khác không): 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu thàng tù) về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Sà V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Lâm Sà V. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 19/2018/HS-ST, ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2018/HS-PT
Ngày 24 – 8 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngô.

Các thẩm phán: 1. Ông Mai Thiện Kế.

2. Ông Phạm Hùng Nuôi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Ông Lê Minh Thích - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2018/TLPT-HS ngày 24/7/2018 đối với bị cáo Lâm Sà V do có kháng cáo của bị cáo Lâm Sà V đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2018/HS-ST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Lâm Sà V (tên gọi khác không), sinh năm: 1998, tại S. Nơi cư trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh S; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; Dân tộc: Khmer; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lâm Sà L, sinh năm 1970 và bà Lâm Thị X, sinh năm 1976; Anh chị em ruột có: 03 người (lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2002); Vợ: Tăng Cẩm Ng, sinh năm 1994 và 01 người con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2018; (Bị cáo có mặt).

- Người phiên dịch tiếng Khmer: Bà Sơn Hồng Vân - Cán bộ Báo Sóc Trăng (có mặt).

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại Nguyễn Út V1 và Nguyễn Quốc H; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị X; Người làm chứng Lâm Sà L, Lâm M và Lý Trường G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2017, ông Lâm Sà L là cha của bị cáo Lâm Sà V, có nói cho V biết là trong lúc ông L uống rượu với ông Nguyễn Út V1, thì ông L bị ông V1 dùng tay đánh 01 cái trúng vào vai, làm ông L bị té ngã gây thương tích xây xát nhẹ.

Đến khoảng 19 giờ ngày 15/11/2017 bị cáo Lâm Sà V đến khu vực ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh S thì thấy bị hại Nguyễn Quốc H và Nguyễn Út V1 đi bộ từ nhà của bị hại đi ra chổ bị cáo đứng, khi bị hại H và bị hại V1 đi tới thì V hỏi ông Việt: “Trước đây Việt có đánh cha bị cáo không?”, thì bị hại V1 trả lời không có đánh cha của bị cáo. Sau khi nghe ông V1 trả lời thì bị cáo kêu bị hại V1 đứng đó đợi để bị cáo về nhà kêu ông L ra để làm rõ sự việc. Sau đó, V chạy về nhà bà Lâm Thị X, sinh năm 1976 (là mẹ ruột của V) ở gần đó, lấy một con dao (loại dao yếm, làm bằng kim loại màu đen, có chiều dài 35cm), rồi quay lại tìm bị hại V1. Khi thấy ông V1 đang đứng thì V cầm dao bằng tay phải chém bằng bề sống dao từ phía sau trúng vào đầu của bị hại V1 một cái, nhưng không gây thương tích (do ông V1 đội nón bảo hiểm). Thấy anh mình vô cớ bị V dùng dao chém nên bị hại H chạy đến nói với V: “Mày làm gì chém anh tao?” rồi bị hại H dùng chân đạp V một cái vào lưng làm cho V bị té xuống lộ. Lúc này, V đứng lên cầm dao chém về phía bị hại V1 và bị hại H 01 dao, thì bị hại V1 và bị hại H cùng đưa tay lên đỡ nên lưỡi dao liên tiếp trúng vào ngón II và ngón III bàn tay trái của ông V1 và trúng vào lòng bàn tay phải của ông H gây thương tích. Sau đó, V bỏ chạy về nhà, còn ông V1 và ông H đi đến Trung tâm y tế huyện C điều trị vết thương. Đến ngày 21/11/2017, bị hại Nguyễn Quốc H và bị hại Nguyễn Út V1 đã làm đơn yêu cầu Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án hình sự và xử lý đối với hành vi của Lâm Sà V theo quy định pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 221/TgT-PY ngày 15/12/2017 của Trung tâm pháp y, thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng kết luận đối với thương tích của bị hại Nguyễn Út V1:

- “Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Sẹo ngang mặt lưng đốt xa ngón II bàn tay trái, kích thước 01 cm x 0,3 cm.

+ Sẹo xây xát da nông mặt lưng đốt giữa ngón III bàn tay trái, kích thước 0,5 x 0,1cm.

+ Chức năng ngón II, III bàn tay trái không bị hạn chế.

-Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo thông tư số 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ y tế, hiện tại là 02% (hai phần trăm).

- Kết luận khác:

+ Tổn thương do vật sắc gây nên.

+ Tổn thương không nằm ở vùng gây nguy hiểm đến tính mạng.

+ Tổn thương không gây ảnh hưởng đến chức năng”

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 222/TgT-PY ngày 15/12/2017 của Trung tâm pháp y, thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng kết luận đối với thương tích của bị hại Nguyễn Quốc H:

- “Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Sẹo ngang mặt lòng mô cái bàn tay phải, kích thước 04cm x 0,3cm

+ Chức năng ngón I bàn tay phải không bị hạn chế.

- Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo thông tư số 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ y tế, hiện tại là 03% (ba phần trăm).

- Kết luận khác:

+ Tổn thương do vật sắc gây nên.

+ Tổn thương không nằm ở vùng gây nguy hiểm đến tính mạng.

+ Tổn thương không gây ảnh hưởng đến chức năng”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HS-ST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Sà V, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng các điểm a, i Khoản 1 Điều 104; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33, Điều 42, Điều 45 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm a Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 299; Điều 333; Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng Khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Lâm Sà V: 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng tù). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

* Ngày 03/7/2018 bị cáo Lâm Sà V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng giữ quyền công tố nhà nước đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành vào ngày 03/7/2018 theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì việc kháng cáo của bị cáo là hợp lệ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 19 giờ ngày 15/11/2017 trên Quốc lộ 1A, thuộc khu vực ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh S thì bị cáo dùng con dao (loại dao yếm, làm bằng kim loại màu đen, có chiều dài 35cm) bằng tay phải chém bằng bề sống dao từ phía sau trúng vào đầu của bị hại V1 một cái nhưng không gây thương tích (do bị hại V1 đội nón bảo hiểm). Thấy anh bị chém nên bị hại H chạy đến nói với bị cáo: “Mày làm gì chém anh tao?” rồi dùng chân đạp bị cáo một cái vào lưng làm cho bị cáo bị té xuống lộ. Lúc này, bị cáo đứng lên cầm dao chém về phía bị hại V1 và bị hại H 01 dao, thì bị hại V1 và bị hại H cùng đưa tay lên đỡ nên lưỡi dao liên tiếp trúng vào ngón II và ngón III bàn tay trái của bị hại V1 và trúng vào lòng bàn tay phải của bị hại H gây thương tích theo kết luận giám định bị hại V1 là 02% và bị hại H là 03%. Lời thừa nhận hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên hành vi phạm tội của bị cáo bị cấp sơ thẩm truy tố và xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 là chính xác và phù hợp với pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Xét thấy, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc Khmer, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ nói trên là chính xác, là phù hợp với pháp luật, các lý do bị cáo xin giảm nhẹ nêu tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa đã được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo để Hội đồng xét xử xem xem. Xét về hình phạt, cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo với mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Đặc biệt, hiện nay tình hình tội phạm này có có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp nên cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là cần thiết nhằm răn đe tội phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Lâm Sà V. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 19/2018/HS-ST, ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể:

Áp dụng các điểm a, i Khoản 1 Điều 104; điểm h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33, Điều 42, Điều 45 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử phạt bị cáo Lâm Sà V (tên gọi khác không): 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu thàng tù) về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

3. Các phần quyết định khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ