- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LH (K- H)"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/HNGĐ-ST Ngày 30-8-2018 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bấm
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 317/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 636/2018/QĐXX-ST ngày 14 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị K; nơi ĐKHKTT: Số 21/39/21/239 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 324 đường P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mă ̣t.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc H; nơi cư trú cuối cùng: Số 21/39/21/239 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng (đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 11/2018/QĐDS-ST ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng); vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự ly hôn ngày 10/7/2018, trong bản tự khai, quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 1997 chị Vũ Thị K và anh Nguyễn Khắc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng ngày 29/8/1997. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 21/39/21/239 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng. Quá trình kết hôn, anh chị chung sống bình thường đến tháng 12 năm 2012 thì nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp và do mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn căng thẳng đến tháng 4 năm 2015 anh H bỏ nhà đi. Chị K và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi, hỏi han bạn bè nhưng đều không biết anh H ở đâu. Vì vậy, chị K đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền tuyên bố anh H mất tích. Ngày 05/6/2018 Tòa án nhân dân quận N đã có Quyết định giải quyết việc dân sự số 11/2018/QĐDS-ST tuyên bố anh Nguyễn Khắc H mất tích. Do tình cảm vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị K và anh H có một con chung là Nguyễn Khắc M, sinh ngày 12/10/1998. Khi ly hôn, cháu M đã thành niên nên chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị K trình bày, chị và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Khắc H vắng mặt tại phiên tòa, đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 11/2018/QĐDS-ST ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 11/2018/QĐDS-ST ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Khắc H. Về con chung, cháu Nguyễn Khắc M đã thành niên (trên 18 tuổi), chị K không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; về tài sản chung, nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết. Chị K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Xét về áp dụng pháp luật tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Khắc H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng trên địa bàn quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Nguyễn Khắc H đã bị Tòa án nhân dân quận N tuyên bố mất tích tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 11/2018/QĐDS-ST ngày 05/6/2018. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
Điều kiện và quá trình kết hôn như chị K đã trình bày, hôn nhân giữa chị K và anh H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống bình thường, hạnh phúc đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, do mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn căng thẳng, đến tháng 4/2015 anh H bỏ nhà đi đâu không rõ; chị K và gia đình không liên lạc và không có tin tức gì của anh Hùng. Chị K và gia đình đã tìm kiếm anh H nhiều nơi nhưng không có kết quả. Ngày 15/12/2017 chị K có đơn yêu cầu Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tuyên bố anh Nguyễn Khắc H mất tích. Toà án quận N đã ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 11/2018/QĐDS-ST ngày 05/6/2018 về việc tuyên bố anh Nguyễn Khắc H mất tích. Tòa án xét thấy, vì khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về việc nuôi con:
Chị Kế và anh H có một con chung như chị K đã trình bày. Do con chung của anh chị là Nguyễn Khắc M, sinh ngày 12/10/1998 đã thành niên (trên 18 tuổi) nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về việc chia tài sản:
Chị K không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, chị Vũ Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Vũ Thị K được ly hôn anh Nguyễn Khắc H.
2. Về việc nuôi con:
Chị Vũ Thị K và anh Nguyễn Khắc H có một con chung là Nguyễn Khắc M, sinh ngày 12/10/1998. Cháu M đã thành niên (trên 18 tuổi), chị K không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về việc chia tài sản:
Chị Vũ Thị K không yêu cầu chia tài sản chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Vũ Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 14768 ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Chị Vũ Thị K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Nguyễn Khắc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - UBND phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thu |