- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Minh T - Đinh Thị L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Dương Minh T và chị Đinh Thị L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 51/2018/HNGĐ-ST Ngày: 18/5/2018 “V/việc ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thu Trang
2. Ông Lê Thành Đông
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Minh T, sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp 2, xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: ấp 5, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Chị Đinh Thị L, sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp 2, xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/3/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Dương Minh T trình bày:
Anh và bị đơn là chị Đinh Thị L chung sống với nhau vào năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/8/2013. Sau khi cưới, anh về cùng chung sống với chị L tại xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm. Trong quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất hòa, sống chung không có hạnh phúc và không thể duy trì được cuộc sống vợ chồng nên anh đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Phước Long sinh sống cách nay khoảng 3 năm. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay anh thấy rằng anh không còn tình cảm với chị L nữa nên anh yêu cầu ly hôn với chị L.
Trong quá trình chung sống anh và chị L không có con chung.
Trang 1
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày 10/5/2018, chị Đinh Thị L trình bày:
Chị và anh T cưới nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống không có hạnh phúc, anh chị thường hay cải vã với nhau và sống ly thân cách nay khoảng 3 năm. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn thương yêu với nhau nữa nên chị đồng ý ly hôn với anh T.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung đều không có. Chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận đi làm ở Công ty, không thể xin nghỉ được nên chị có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị không có khiếu nại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Chị Đinh Thị L là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị L chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/8/2013 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Theo anh T trình bày thì sau khi cưới, vợ chồng cùng chung sống tại xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên cải vã với nhau, thường hay bất hòa. Vợ chồng chung sống chỉ có một thời gian ngắn thì anh T không thể sống chung cùng với chị L được nữa nên anh đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Phước Long sinh sống và anh chị đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay khoảng 3 năm. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm hiểu kỹ trước khi kết hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh T đã sống ly thân với nhau đã 03 năm, thời gian sống ly thân, anh chị không còn quan tâm chăm sóc nhau như vợ như chồng. Do anh T không còn tình cảm vợ chồng với chị L nữa nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị L cũng không còn tình cảm và không đồng ý đoàn tụ với anh T, chị đồng ý thuận tình ly hôn với anh T. Do đó Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh T và chị L là phù hợp.
- Về con chung: Anh T và chị L không có con chung
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị L không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
- Về án phí: Anh T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
Trang 2
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Dương Minh T và chị Đinh Thị L.
2. Về con chung: Anh Dương Minh T và chị Đinh Thị L không có con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Dương Minh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015382 ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; anh T đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - UBND xã Phong Nẫm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. Trang 3 | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Võ Thế Trang Đền |