vanban.org

Bản án 51/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Bác yêu cầu của ông Tống Văn T đối với ông Nguyễn Thành C, về việc yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại tài sản là 31.

2/ Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thành C về việc hổ trợ cho ông Tống Văn T số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản giữa ông Tống Văn T và ông Nguyễn Thành C."
  • Tòa quyết gì? 1/ Bác yêu cầu của ông Tống Văn T đối với ông Nguyễn Thành C, về việc yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại tài sản là 31.
  • Căn cứ chính? Điều 584 Bộ luật Dân sự; Điều 585 Bộ luật Dân sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 51/2018/DS-ST
Ngày: 09/11/2018
“Tranh chấp bồi thường
thiệt hại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hùng;

2. Ông Nguyễn Văn Sĩ.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Trần Minh Châu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương - Kiểm sát viên.

Vào ngày 09/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 169/2018/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2018, về việc tranh chấp “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2018/QĐXXST-DS, ngày 22 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tống Văn T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: ấp F, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Khóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khóm U, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Khóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại phiên tòa. Ông T và ông P có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21/6/2018; biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2018; 10/10/2018; biên bản hòa giải ngày 06/8/2018 và tại phiên toà ông Tống Văn T trình bày: Vào ngày 19/3/2018 ông có xuống giống trồng dưa hấu với diện tích là 11.000m2, đất tọa lạc tại Hợp tác xã Q, thị trấn T, khi dưa được 40 ngày tuổi, đang cho trái. Ngày 25/4/2018 (al), ông Nguyễn Thành C là người canh tác lúa cặp ranh với ruộng dưa của ông tiến hành xạ phân cho lúa, trong quá trình xạ phân ông C có trộn thuốc cỏ nhãn hiệu 2,4D vào phân để xạ cho lúa, thời điểm ông C xạ phân có gió mạnh nên thuốc cỏ bay qua ruộng dưa của ông, gây gây thiệt hại cho ruộng dưa của ông. Khi phát hiện dưa hấu có dấu hiệu bị héo, ông C có yêu cầu ông xịt thuốc để khắc phục lại, nhưng đến sáng hôm sau thì bị héo toàn bộ diện tích đất trồng dưa hấu thiệt hại tỉ lệ 95%. Sau khi dưa của ông bị thiệt hại ông có báo cho ông T là cán bộ nông nghiệp thị trấn T khảo sát. Ruộng dưa của ông bị thiệt hại 95%, với số tiền là 63.964.000đ.

Nay ông khởi kiện yêu cầu ông C phải bồi thường thiệt hại do xạ phân trộn thuốc cỏ làm thiệt hại dưa của ông với số tiền 31.982.000đ.

Tại bản tự khai ngày 24/7/2018; biên bản lấy lời khai ngày 19/9/2018; biên bản hòa giải ngày 06/8/2018 và tại phiên toà ông Nguyễn Thành C trình bày: Thừa nhận vào tháng 4/2018 (al) ông có canh tác 20.000m2 đất lúa, tọa lạc tại Hợp tác xã Q thị trấn T, cặp ranh với đất trồng dưa của ông T. Khi lúa của ông được khoảng 40 ngày tuổi, ông tiến hành xạ phân đợt 3 cho lúa, do thời điểm này lúa của ông bị cỏ dại xâm hại, nên khi xạ phân ông có trộn phân với thuốc cỏ nhãn hiệu 2,4D để xạ cho lúa. Trong quá trình ông xạ phân có sự chứng kiến của vợ chồng ông T, khi ông xạ phân được khoảng ½ diện tích thì ông T cho rằng ruộng dưa của ông T bị héo lá, do bị thuốc cỏ làm ảnh hưởng và yêu cầu ông ngừng lại, ông có ngừng lại để xem xét theo yêu cầu của ông T nhưng không phát hiện gì. Sau khi xạ phân xong, ông thường xuyên tới lui thăm đất của ông thì thấy ruộng dưa của ông T vẫn phát triễn bình thường và ông T vẫn thu hoạch và bán dưa được 2-3 đợt. Việc ông T cho rằng ông xạ phân, trộn thuốc cỏ làm thiệt hại dưa của ông T 95% và yêu cầu tôi bồi thường thiệt hại số tiền là 31.982.000đ, ông không đồng ý.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của mình đối với vụ án trên như sau:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì thêm đối với vụ án trên.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các Điều 584; 585 và 589 Bộ luật Dân sự, bác yêu cầu khởi kiện của ông Tống Văn T đối với ông Nguyễn Thành C về việc yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại số tiền 31.982.000đ, vì không có căn cứ. Chấp nhận sự tự nguyện của ông C về việc hổ trợ cho ông T số tiền 3.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa, ông T yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại do xạ phân trộn thuốc cỏ, làm thiệt hại dưa hấu của ông với số tiền là 31.982.000đ. Xét thấy yêu cầu này là không có căn cứ để chấp nhận. Bởi vì, tại phiên tòa, ông T cho rằng ngày 25/4/2018 (al), ông C xạ phân trộn thuốc cỏ làm thiệt hại ruộng dưa của ông, ông có báo cho ông T là cán bộ nông nghiệp của thị trấn T biết, nhưng từ khi ông C xạ phân cho đến nay, không có biên bản hay chứng cứ gì để xác định ruộng dưa của ông bị thiệt hại là do thuốc cỏ ông C sử dụng gây ra. Tại biên bản lấy lời khai của ông T và ông P, là những người trực tiếp đến chứng kiến thời điểm ruộng dưa của ông bị thiệt hại xác nhận: khi đến ruộng dưa của ông thấy phát triển không bình thường, còn nguyên nhân vì sao ông không biết, tại thời điểm đến chứng kiến việc trên, ông T không yêu cầu lập biên bản nên ông không lập. Hơn nữa tại công văn số 362/TNN&PTNT ngày 17/10/2018 của Phòng nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Tam Nông cung cấp cho Tòa án thể hiện: Khi ông T trộn thuốc cỏ vào phân để xạ, nếu có gió ít thì ảnh hưởng đến ruộng dưa của ông T không lớn, chỉ ảnh hưởng đến phần diện tích cặp ranh đất xạ phân, còn nếu thời đểm ông C xạ phân có gió lớn sẽ ảnh hưởng hết diện tích đất của ông T, khi đó dưa sẽ bị chết, không có biện pháp phục hồi. Tại phiên tòa, ông T cho rằng: Thời điểm ông C xạ phân vào khoảng 11- 12 giờ trưa, có gió mạnh thổi sang qua đất trồng dưa của ông, ông Công cho rằng, thời điểm ông xạ phân vào khoảng 8- 9 giờ sáng, không có gió. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc ông T cho rằng ông C xạ phân vào khoảng thời gian từ 11- 12 giờ trưa, gió rất mạnh, nhưng ông không có chứng cứ gì để chứng minh. Giả sử, nếu như lời trình bày của ông T là có căn cứ, việc ông C xạ phân vào lúc 11- 12 giờ trưa, gió rất mạnh, thổi sang qua ruộng dưa của ông, thì căn cứ vào công văn số 362/TNN&PTNT ngày 17/10/2018 của Phòng nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Tam Nông, thì ruộng dưa của ông T sẽ bị chết, không có biện pháp phục hồi. Tại phiên tòa, ông T thừa nhận, sau khi ông C xạ phân trộn thuốc cỏ, khoảng 15 ngày sau thì ông tiến hành thu hoạch dưa và bán trái cho thương lái được 2 lần. Như vậy, chứng tỏ việc ông C xạ phân, trộn thuốc cỏ không ảnh hưởng gì đến ruộng dưa của ông. Giả sử, nếu như ông C xạ phân có trộn thuốc cỏ, có thiệt hại đến ruộng dưa của ông, thì thiệt hại cũng không lớn, nhưng trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, ông không chứng minh được nguyên nhân dưa của ông bị thiệt hại là do ông C gây ra. Mặc khác, khi ông thu hoạch, bán dưa hấu ông cũng không báo cho chính quyền địa phương biết để lập biên bản, sản lượng của ông thu hoạch được bao nhiêu? Bán được bao nhiêu tiền, so với các ruộng dưa khác thì năng suất thế nào? mà do ông tự suy đoán và tự xác định thiệt hại của mình, nên chưa có căn cứ để xác định ruộng dưa của ông bị thiệt hại bao nhiêu tiền, nguyên nhân bị thiệt hại là do đâu. Do đó, chưa có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa, ông C tự nguyện hổ trợ cho ông T số tiền là 3.000.000đ, xét thấy sự tự nguyện này là có lợi cho ông T, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Do yêu cầu của ông T không có căn cứ để chấp nhận, nên ông T phải chịu án phí theo quy định.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, phù hợp với các quy định của pháp luật, nghĩ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 584; 585 và 589 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

1/ Bác yêu cầu của ông Tống Văn T đối với ông Nguyễn Thành C, về việc yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại tài sản là 31.982.000đ (Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đòng).

2/ Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thành C về việc hổ trợ cho ông Tống Văn T số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

3/ Về án phí: Ông Tống Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.599.000đ (Một triệu năm trăm chín mươi chín nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Tài đã nộp là 1.599.000đ (Một triệu năm trăm chín mươi chín nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003651 ngày 03/7/2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ