- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp nâng cao đường dây điện đi qua đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/DS-PT Ngày: 06/3/2018 V/v tranh chấp về dân sự buộc nâng cao công trình điện đi qua đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Mỹ
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thân - Kiểm sát viên.
Ngày 06/3/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2018/TLPT-DS, ngày 10/01/2018 về việc tranh chấp dân sự buộc nâng cao công trình điện đi qua đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2017/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2018/QĐ-PT ngày 08 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị C, sinh năm 1972;
Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị trấn R, huyện H, tỉnh T.
- Bị đơn: Nguyễn Văn D, sinh năm 1963.
Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã P, huyện H, tỉnh T.
Chỗ ở hiện nay: thị trấn R, huyện H, tỉnh T.
Theo đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn D là bị đơn
( Bà C và ông D có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phạm Thị C trình bày:
Ông Nguyễn Văn D là chủ đầu tư bơm tưới cho Tổ hợp tác số 25 ấp D, xã P, huyện H. Trong quá trình sử dụng điện để bơm tưới ông D kéo đường dây điện hạ thế từ đường V, khóm 1, thị trấn R vượt sông Tân Thành - Lò Gạch đi ngang qua phần đất của bà C, đường dây điện cặp sát mái nhà gây nguy hiểm đến cuộc sống, sinh hoạt của gia đình bà cũng như bà muốn xây dựng nhà cao lên cũng không được. Nên bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D phải di dời đường dây điện ra khỏi phần đất của bà. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông D nâng cao đường dây điện lên cho đảm bảo an toàn theo quy định của ngành điện, thay đổi đường dây trần thành dây bọc cách điện trung thế, di dời đường dây điện chỉ đi qua 01 thửa đất số 64 của bà C (vì hiện nay đường dây điện từ trụ 248 đến 248/2 là đi xéo qua cả 02 thửa đất số 64 và 67 của bà C).
Bị đơn Nguyễn Văn D trình bày:
Trước đây phục vụ bơm tưới cho tổ hợp tác 25 là của Công ty Vinaconex 27, sau này công ty bán lại cho doanh nghiệp tư nhân SD do ông D làm chủ doanh nghiệp. Qua yêu cầu của bà C thì ông D có ý kiến như sau: Trụ điện đã có cách đây 24 năm và năm 2001 đã được nâng cao lên một lần, nay không thể di dời được, ông D đồng ý là sẽ nâng cao trụ điện lên 20m và sử dụng dây bọc theo thiết kế của Công ty điện lực để đảm bảo an toàn. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì ngày 05-9-2017 ông D có đơn yêu cầu thay đổi ý kiến của biên bản hòa giải thành ngày 30-8-2017 với lý do là nếu thay đổi từ trụ 14m qua trụ 20m thủ tục rất rườm rà, phải xin phép nhiều cơ quan. Trong khi năm 2018 Điện lực huyện H sẽ hạ thế đường dây trung thế phía P đi ngang qua trạm bơm của ông nên ông chờ việc hạ thế của Điện lực thì sẽ tháo dỡ đường dây đi ngang qua nhà bà C. Tại phiên tòa ông D thay đổi ý kiến là đồng ý thay dây trần thành dây bọc cách điện, nâng cao đường dây theo quy định của ngành điện, nhưng không thể di dời đường dây chỉ đi qua một thửa đất của bà C được vì hiện trạng 03 trụ điện đã như vậy, không thể di dời được.
Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
Chấp nhận sự tự nguyện của bị đơn.
Ông Nguyễn Văn D có nghĩa vụ thay đổi sử dụng dây bọc cách điện trung thế thay cho dây trần hiện nay (từ trụ điện 248 tại khóm 1, thị trấn Sa Rài đến trụ 248/2 tại ấp D, xã P) và nâng độ cao đường dây điện lên 11 m (tính từ độ võng dây đến mặt đất), cách tường nhà bà Phạm Thị C 01 m (khoảng cách ngang), khoảng cách đứng là 03m (tính từ độ võng đến mái nhà của bà C). (Kèm biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15-02-2017).
Không chấp nhận yêu cầu của bà C về việc yêu cầu di dời đường dây điện chỉ đi qua 01 thửa đất số 64 của bà C.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn D chịu 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Phạm Thị C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 100.000 đồng theo biên lai số BN/2013 11139 ngày 21-10-2016, bà C còn phải nộp thêm 100.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn kháng cáo của các đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.
- Sau khi án sơ thẩm tuyên, ông Nguyễn Văn D là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà Phạm Thị C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý xem xét giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà C yêu cầu ông D nâng cao trụ điện lên cho đảm bảo an toàn theo quy định của ngành điện, thay đổi đường dây trần thành dây bọc cách điện trung thế, ông D không đồng ý theo yêu cầu của bà C. Đối chiếu quy định của ngành điện đối với hiện trạng hiện nay thì đường dây điện từ trụ 248 đến 248/2 đi ngang qua 02 thửa đất 64 và 67 của bà C chưa đảm bảo khoảng cách an toàn theo quy định. Bà C yêu cầu ông D nâng cao trụ điện lên cho đảm bảo an toàn theo quy định của ngành điện, thay đổi đường dây trần thành dây bọc cách điện trung thế là có cơ sở.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bà C buộc ông D có nghĩa vụ thay đổi sử dụng dây bọc cách điện trung thế thay cho dây trần hiện nay (từ trụ điện 248 tại khóm 1, thị trấn R đến trụ 248/2 tại ấp D, xã P) và nâng độ cao đường dây điện lên 11 m (tính từ độ võng dây đến mặt đất), cách tường nhà bà Phạm Thị C 01 m (khoảng cách ngang), khoảng cách đứng là 03m (tính từ độ võng đến mái nhà của bà C). (Kèm biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15-02-2017) là có căn cứ và đúng theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, nên ông D phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2017/DS-ST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phạm Thị C.
Ông Nguyễn Văn D có nghĩa vụ thay đổi sử dụng dây bọc cách điện trung thế thay cho dây trần hiện nay (từ trụ điện 248 tại khóm 1, thị trấn R đến trụ 248/2 tại ấp D, xã P) và nâng độ cao đường dây điện lên 11 m (tính từ độ võng dây đến mặt đất), cách tường nhà bà Phạm Thị C 01 m (khoảng cách ngang), khoảng cách đứng là 03m (tính từ độ võng đến mái nhà của bà C). (Kèm biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15-02-2017).
Không chấp nhận yêu cầu của bà C về việc yêu cầu di dời đường dây điện chỉ đi qua 01 thửa đất số 64 của bà C.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn D chịu 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Phạm Thị C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 100.000 đồng theo biên lai số BN/2013 11139 ngày 21-10-2016 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, bà C còn phải nộp thêm 100.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng đươc khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai số 03840 ngày 19/12/2017 của Chi cục Thi hành án huyện Tân Hồng, như vậy ông D đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh ĐT; - TAND huyện Tân Hồng; - CCTHADS huyện Tân Hồng; - Phòng GĐKTNV và THA; - Các đương sựï; -Lưu: VT, HSVA (M) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Mỹ |