vanban.org

Bản án 509/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 509/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 6 - 2023.
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Phối

2. Ông Hồ Đắc Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2023/TLST-HN ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Bảo N , sinh năm: 1994; Địa chỉ: Tổ 62, khu vực 7, phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Võ Trung H , sinh năm: 1990; Địa chỉ: Tổ 62, khu vực 7, phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 10 năm 2022 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Trương Bảo N trình bày:

Chị và anh Võ Trung H trước khi kết hôn có tìm hiểu, đến ngày 28/02/2020 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Nhơn An, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại tổ 62, khu vực 7, phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H thường xuyên ăn nhậu không quan tâm gì đến vợ con, sống không có trách nhiệm với gia đình, chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh H không thay đổi. Vợ chồng hiện nay vẫn sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống không còn tình cảm, không còn trách nhiệm với nhau.

Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn anh Võ Trung Hậu để hai bên ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là Võ Trương Tuệ Đ , sinh ngày 09/9/2021. Hiện nay con chung đang sống với vợ chồng, sức khỏe bình thường. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Hậu cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Chị và anh H tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết;

Bị đơn, anh Võ Trung H :

Anh Võ Trung H cố tình vắng mặt, không đến Tòa để làm việc, nên Tòa không lấy được lời khai.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật TTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị: Áp dụng Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Bảo N được ly hôn anh Võ Trung H ; Giao con chung Võ Trương Tuệ Đ , sinh ngày 09/9/2021 cho chị N nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên không giải quyết; Tài sản chung: Chị N không yêu cầu nên không xem xét.

- Án phí HNGĐ: Chị Trương Bảo N phải chịu 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Trương Bảo N là nguyên đơn trong vụ án, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên Tòa hôm nay. Bị đơn là anh Võ Trung H đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội dồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung: Chị Trương Bảo N và anh Võ Trung H trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị N nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, thường xuyên ăn nhậu không lo làm ăn, chị đã nhiều lần khuyên bảo, tha thứ nhưng anh H không thay đổi. Hiện nay vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Chị không còn tình cảm với anh H nên chị yêu cầu được ly hôn anh Võ Trung H để ổn định cuộc sống.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Võ Trung H không hợp tác, không đến Tòa làm việc mặc dù đã nhận đầy đủ thông báo thụ lý vụ án cũng như các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Điều này chứng tỏ anh H không có thiện chí muốn hòa hợp.

Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Trương Bảo N được ly hôn anh Võ Trung H là phù hợp với Điều 51, 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị N và anh H có một con chung là Võ Trương Tuệ Đ , sinh ngày 09/9/2021. Ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Tòa xét: Việc nuôi con sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu, hiện nay cháu Đ chưa được 36 tháng tuổi, nên theo quy định của pháp luật con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thoả thuận phù hợp với lợi ích của con. Do đó, HĐXX xét thấy nên giao cháu Võ Trương Tuệ Đan cho chị Ngọc nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu, Tòa không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì chị N phải chịu 300.000đồng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû :

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Bảo N được ly hôn anh Võ Trung H

2. Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

2.1. Chị Trương Bảo N và anh Võ Trung H có mội con chung là Võ Trương Tuệ Đ , sinh ngày 09/9/2021.

2.2. Giao cháu Võ Trương Tuệ Đ cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu, Tòa không giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Chị Trương Bảo N không yêu cầu, Tòa không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trương Bảo N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003237 ngày 07/02/2023 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ