vanban.org

Bản án 509/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V.

Buộc ông Phan Hồng H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền 15.263.557 đồng (mười lăm triệu hai trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm năm mươi bảy đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty và ông Phan Hồng H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V.
  • Căn cứ chính? Điều 474 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 509/2017/DS-ST
Ngày 29/9/2017.
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hương

2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên -Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 342/2017/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 376/2017/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V.

Địa chỉ: đường N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Mộng N, sinh năm: 1985

Văn bản ủy quyền số 156/UQTT-QTRR.17 ngày 01/9/201. (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: đường N, phường Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Phan Hồng H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2017, bản tự khai và lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng trình bày:

Vào ngày 25/12/2014 Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V (sau đây gọi tắt là Công ty) có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150109-801002-0002 với ông Phan Hồng H. Nội dung của hợp đồng là Công ty cho ông Phan Hồng H vay số tiền 19.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng, thời hạn vay là 24 tháng. Theo thỏa thuận ông Phan Hồng H có trách nhiệm thanh toán số tiền 33.046.000 đồng (gồm cả gốc và lãi) trong vòng 24 tháng, 23 tháng đầu trả số tiền 11.377.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.375.000 đồng, bắt đầu trả từ ngày 15/02/2015 đến ngày 15/01/2017 là chấm dứt. Ông Phan Hồng H đã nhận đủ số tiền nhưng chỉ thanh toán số tiền 8.274.000 đồng trong đó bao gồm 3.736.443 đồng tiền gốc và 4.537.557 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 11/3/2016 ông Phan Hồng H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ cho Công ty dù đã nhiều lần được Công ty thông báo, nhắc nhở. Nay Công ty chỉ yêu cầu ông Phan Hồng H thanh toán số tiền gốc còn lại là 15.263.557 đồng, công ty không yêu cầu ông Phan Hồng H phải trả lãi, yêu cầu ông Phan Hồng H thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Công ty không yêu cầu khoản tiền lãi nào khác, trường hợp chậm trả nợ thì yêu cầu tính lãi chậm thi hành án theo quy định của pháp luật dân sự. Đây là khoản vay tín chấp, Công ty tài chính cho cá nhân ông Phan Hồng H vay và không yêu cầu vợ hoặc người thân của ông Phan Hồng H có nghĩa vụ trả nợ thay.

Bị đơn ông Phan Hồng H vắng mặt nhưng có lời khai: Ông thừa nhận có vay của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V số tiền là 19.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng. Nay ông xác định còn nợ nguyên đơn số tiền là 15.263.557 đồng và đồng ý trả khoản tiền nợ như đại diện nguyên đơn yêu cầu nhưng do hoàn cảnh khó khăn đề nghị Công ty cho trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Mộng N có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án. Bị đơn ông Phan Hồng H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Phan Hồng H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho thấy bị đơn có vay tiền của nguyên đơn và kể từ ngày 11/3/2016 ông Phan Hồng H không thanh toán thêm cho Công ty. Do đó, Công ty yêu cầu ông Phan Hồng H thanh toán số tiền 15.263.557 đồng là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn cư trú tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V chỉ yêu cầu cá nhân ông Phan Hồng H phải thanh toán khoản nợ vay, do đó không cần đưa những người thân khác của ông Phan Hồng H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn ông Phan Hồng H hiện đang cư trú tại Đường N, khu phố B, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật tại địa chỉ của bị đơn nhưng ông Phan Hồng H vẫn vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Do vậy, căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông Phan Hồng H.

Bà Trần Thị Mộng N, người đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Xét ông Phan Hồng H đã có lời khai xác định ngày 25/12/2014 có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng với Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V, xác nhận số nợ và đồng ý trả theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định Công ty đã cho ông Phan Hồng H vay số tiền 19.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng để tiêu dùng, thời hạn vay là 24 tháng theo đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150109-801002-0002 ngày 25/12/2014.

Xét theo thỏa thuận, ông Phan Hồng H có trách nhiệm thanh toán số tiền 33.046.000 đồng (gồm cả gốc và lãi) trong đó 23 tháng đầu trả số tiền 1.377.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.375.000 đồng, bắt đầu từ ngày 12/02/2015 nhưng ông Phan Hồng H chỉ trả được 8.274.000 đồng và từ ngày 11/3/2016 ngưng không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ gốc và lãi nào cho Công ty mặc dù Công ty đã áp dụng nhiều biện pháp yêu cầu nhưng ông Phan Hồng H vẫn không thanh toán. Do đó, tại Tòa Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V chỉ yêu cầu ông Phan Hồng H thanh toán số tiền gốc đã đến hạn là 15.263.557 đồng, Công ty không yêu cầu ông Phan Hồng H phải trả tiền lãi là có lợi cho bị đơn, không trái pháp luật nên có căn cứ chấp nhận. Việc ông Phan Hồng H trình bày do hoàn cảnh khó khăn xin trả dần bằng cách mỗi tháng trả 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng không được đại diện Công ty chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng dân sự là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, việc ông Phan Hồng H không thanh toán nợ đúng hạn là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng, làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động bình thường của Công ty do đó việc Công ty yêu cầu ông Phan Hồng H phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Phan Hồng H phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể ông Phan Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.263.557 đồng x 5% = 763.178 đồng (bảy trăm sáu mươi ba ngàn một trăm bảy mươi tám đồng).

Hoàn trả cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp 381.588 đồng (ba trăm tám mươi mốt ngàn năm trăm tám mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0015729 ngày 03/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điểu 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 471; Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V.

Buộc ông Phan Hồng H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền 15.263.557 đồng (mười lăm triệu hai trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm năm mươi bảy đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án về số tiền nêu trên, nếu ông Phan Hồng H chưa thi hành thì hàng tháng ông Phan Hồng H còn phải chịu thêm tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phan Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 763.178 đồng (bảy trăm sáu mươi ba ngàn một trăm bảy mươi tám đồng). Ông Phan Hồng H chưa nộp tiền án phí.

Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V không phải chịu án phí. Hoàn lại cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí 381.588 đồng (ba trăm tám mươi mốt ngàn năm trăm tám mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0015729 ngày 03/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức.

3. Về quyền kháng cáo: Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V và ông Phan Hồng H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ