vanban.org

Bản án 508/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị C1 Trương Thị C và anh Đoàn Chí T là vợ chồng.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Đoàn Chí N, sinh ngày 28/7/2018 (Giới tính: Nam) cho chị Trương Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đoàn Chí T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. Về án phí: Chị Trương Thị C phải nộp số tiền 300.000 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "trương thị c"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị C1 Trương Thị C và anh Đoàn Chí T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 508/2022/HNGĐ-ST
Ngày 27-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

2. Ông Hồ Quang Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 766/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 524/2022/QĐXX-ST ngày 22 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị C, sinh năm 1999 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Đoàn Chí T, sinh năm 1994 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 06/12/2022, biên bản hòa giải ngày 22/12/2022 chị Trương Thị C trình bày: Chị và anh Đoàn Chí T chung sống với nhau từ năm 2018, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống hạnh phúc. Thời gian sau khoảng năm 2019, do anh Đoàn Chí T đi chấp hành án nên từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân hơn 03 năm nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh T có 01 người con tên Đoàn Chí N, sinh ngày 28/7/2018, hiện đang sống chung với chị.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cấp

Tại biên bản hòa giải ngày 22/12/2022, anh Đoàn Chí T trình bày: Về hôn nhân: Anh và chị C sống chung với nhau từ năm 2018, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Về mâu thuẫn ly hôn đúng như chị C trình bày. Do anh với chị C cũng đã sống ly thân hơn 03 năm nay nên anh đồng ý ly hôn với chị C; Về con chung: Anh đồng ý giao cháu Đoàn Chí N, sinh ngày 28/7/2018 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung và nợ thống nhất như chi C trình bày.

Do điều kiện các đương sự đi làm ăn xa nên yêu cầu được xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đoàn Chí T có nơi cư trú tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Trương Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Đoàn Chí T tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chị C là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị C là nguyên đơn, anh T là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị C và anh T xin vắng mặt; Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị C và anh Đoàn Chí T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2018, hôn nhân tự nguyện. Tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng chị và anh không đăng ký kết hôn theo luật định. Chị C và anh T không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị và anh đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh đã sống ly thân hơn 03 năm nay.

Xét, mâu thuẫn giữa chị C và anh T là thực tế có xảy ra; đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp.

Về con chung: Chị Chinh và anh Tâm có 01 người con chung tên Đoàn Chí N, sinh ngày 28/7/2018. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con.

Xét, con chung tên Đoàn Chí N. Hiện nay cháu đang sống cùng với chị C, từ khi chị và anh T sống ly thân đến nay cháu sống cùng với chị C, gần gũi với chị, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Đoàn Chí N cho chị Trương Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị C không đặc ra, anh T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị C và anh T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị C phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 81 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị C1 Trương Thị C và anh Đoàn Chí T là vợ chồng.

- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Đoàn Chí N, sinh ngày 28/7/2018 (Giới tính: Nam) cho chị Trương Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đoàn Chí T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Chị Trương Thị C phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 06/12/2022 chị C đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005836 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ