- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Kim N + ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Đỗ Thị Kim N và Nguyễn Thị T phaïm toäi “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật ình sự; Điều 173 Bộ luật ình sự; Điều 58 Bộ luật ình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 507/2022/HS-ST Ngày: 17-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà guy n Th oàng Ph ng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam – Cán bộ h u trí.
Bà guy n Th ồng Ph ợng – Phó Chủ t ch ội nông dân thành phố B.
- Thư ký phiên tòa: ng guy n oàng Linh – Th ký T a án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Tr ng Kim Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng ai xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 414/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số 469/2022/QĐXXST-HS ngày 04/10/2022 và Quyết đ nh hoãn phiên t a số 1014/2022/HSST-QĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với các b cáo:
1/ Họ và tên: Đỗ Thị Kim N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: ữ; Sinh năm 1987, tại Bến Tre; i c trú: không xác đ nh; i đăng ký KTT: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre; Quốc t ch: Việt am; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; ghề nghiệp: Không; ọ và tên cha: Đỗ Văn Lớn, sinh năm 1959; ọ và tên mẹ: Phùng Th ghĩa, sinh năm 1956; B cáo là con út trong gia đình có 03 (ba) anh em; B cáo ch a có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; B cáo b bắt để tạm giam vào ngày 27/5/2022, hiện b cáo đang b tạm giam tại hà tạm giữ Công an thành phố B. B cáo có mặt.
2/ Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: ữ; Sinh năm 1996, tại Đồng ai; i c trú: Tổ 9, khu phố T, ph ờng H, thành phố B, tỉnh Đồng ai; i đăng ký KTT: 7/3, khu phố 2, ph ờng B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc t ch: Việt am; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 00/12; ghề nghiệp: Không; ọ và tên cha: guy n Văn Màng, sinh năm: không rõ; ọ và tên mẹ: Đào Th uệ, sinh năm 1959; B cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 (hai) anh em; B cáo sống chung nh vợ chồng với anh guy n Thanh L, sinh năm 1988, có 03 ng ời con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: 01 ( gày 22/11/2021, guy n Th T b T a án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng ai tuyên phạt 04 (bốn) năm tù giam về tội “C ớp giật tài sản” theo bản án số 471/2021/ SST, ch a đ ợc xóa án tích); Tiền sự: Không; B cáo đ ợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i c trú, đến ngày 14/7/2022 b cáo đi chấp hành án tại trạm giam Xuân Lộc theo quyết đ nh T hành án phạt tù số 752/2021/QĐ-CA ngày 24/12/2021 tại Bản án số 471/2021/HSST ngày 22/11/2021. B cáo có mặt.
* Bị hại: Bà guy n T, sinh năm 1967.
Đ a chỉ: 185, đ ờng 4, khu phố 1, ph ờng B, thành phố B, tỉnh Đồng ai. (Có đ n xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên t a, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Đỗ Th Kim N rủ guy n Th T (là bạn ở chung phòng trọ) đi tìm ng ời nào s hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 28/01/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 54Z3-0109 chở N đi đến khu vực thuộc ph ờng B, thành phố Biên, a khi đi ngang qua nhà số 185, đ ờng 4 thuộc khu phố 1, ph ờng B, thành phố B do bà guy n T, sinh năm: 1967 làm chủ thì T và N phát hiện tr ớc nhà có nhiều chậu cây cảnh nên T dừng xe lại rồi cả hai quan sát thấy không có ng ời trông giữ những chậu cây cảnh trên nên cả hai đã vào lấy trộm một chậu cây mai vàng rồi đem ra bỏ lên yên xe để N điều khiển xe chở T ngồi phía sau ôm chậu cây mai đem về ph ng trọ tại tổ 9, khu phố T, ph ờng H, thành phố B cất giấu. Sau đó, cả 02 tiếp tục quay lại nhà bà T lấy trộm thêm 01 (một) chậu cây mai vàng và đem về ph ng trọ cất giấu. Đến sáng cùng ngày bà T phát hiện b mất 02 (hai) chậu cây mai vàng nên đã đến Công an ph ờng B, trình báo sự việc.
Khoảng 08h cùng ngày, Công an ph ờng H kiểm tra hành chính ph ng trọ của N và T, phát hiện 02 (hai) chậu cây mai vàng do N và T trộm cắp tại nhà bà ồng đang cất giấu tại đây. Qua làm việc, cả Đỗ Th Kim N và guy n Th T đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Công an ph ờng H đã lập hồ s chuyển Công an ph ờng B. Sau đó, Công an ph ờng B đã lập hồ s chuyển C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) USB ghi lại cảnh guy n Th T và guy n Th Kim N trộm cắp 02 chậu cây mai vàng vào ngày 28/01/2022 tại nhà số 185, đ ờng 4, khu phố 1, ph ờng B, thành phố B. (l u hồ s vụ án).
- 02 (hai) chậu cây mai vàng, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu là bà guy n T.
- 01 (một) xe mô tô biển số 54Z3-0109 của guy n Th T sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra, T khai nguồn gốc chiếc xe mô tô trên là T mua của một ng ời đàn ông vào năm 2017 khi mua có giấy tờ. Qua kiểm tra nguồn gốc ph ng tiện giao thông c giới đ ờng bộ tại Công an thành phố B thì xác đ nh chủ xe là ch Vũ Th T, trú tại: 320/82, B, ph ờng 10, Quận 4, thành phố ồ Chí Minh. iện nay, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ch a làm việc đ ợc với ch T nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên để xác minh làm rõ xử lý sau.
- Tại bản kết luận đ nh giá tài sản số 61/KL- ĐĐGTS ngày 17/2/2022, của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “02 (hai) chậu cây mai vàng có tổng giá tr đ nh giá là 3.300.000 (Ba triệu, ba trăm nghìn đồng)”.
Về dân sự: Quá trình điều tra, b hại bà guy n T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi th ờng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các b cáo đã nhận tội theo nh nội dung cáo trạng mô tả và không có ý kiến hay khiếu nại kết luận đ nh giá tài sản nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các b cáo và không có ý kiến về kết luận đ nh giá tài sản.
Tại bản cáo trạng số 426/CT-VKSBH ngày 07/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố b cáo Đỗ Th Kim N và guy n Th T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên t a, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề ngh ội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo Đỗ Th Kim N mức án từ 10 (M ời) tháng đến 12 (M ời hai) tháng tù giam.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58 Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo guy n Th T mức án từ 12 (M ời hai) đến 18 (M ời tám) tháng tù giam.
Đối với anh guy n Thanh L là ng ời chung sống nh vợ chồng với b cáo T trong cùng một ph ng trọ, khi b cáo N rủ b cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và khi các b cáo mang 02 (hai) chậu cây mai vàng về ph ng trọ, anh L đang ngủ nên không biết tài sản do các b cáo phạm tội mà có nên C quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh L.
Các b cáo nói lời sau cùng: Xin ội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các b cáo để các b cáo sớm về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, ội đồng xét xử nhận đ nh nh sau:
Về hành vi, quyết đ nh tố tụng trong hồ s vụ án: C quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các b cáo, ng ời tham gia tố tụng khác và tại phiên t a không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy đ nh pháp luật.
Tại phiên t a, các b cáo Đỗ Th Kim N và guy n Th T đã khai nhận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/01/2022, tại nhà số 185, đ ờng 4, khu phố 1, ph ờng B, thành phố B, Đỗ Th Kim N và guy n Th T đã có hành vi trộm cắp 02 (hai) chậu cây mai vàng có tổng giá tr đ nh giá là 3.300.000 (Ba triệu, ba trăm nghìn đồng) của bà guy n T thì b phát hiện điều tra xử lý.
Lời khai nhận của các b cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s vụ án; lời khai của b hại; ng ời làm chứng. h vậy, đã có đủ c sở kết luận hành vi của các b cáo Đỗ Th Kim N và guy n Th T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nh nội dung bản cáo trạng số 426/CT-VKSBH ngày 07/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có c sở, đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đ ợc pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tr an xã hội tại đ a ph ng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Vai tr của b cáo: Trong vụ án này, b cáo N là ng ời khởi x ớng, rủ rê b cáo T nên b cáo giữ vai tr chủ m u. B cáo T có 01 tiền án b T a án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng ai tuyên phạt 04 (bốn) năm tù giam về tội “C ớp giật tài sản” theo bản án số 471/2021/ SST ngày 22/11/2021, ch a đ ợc xóa án tích b cáo lại tiếp tục tích cực cùng b cáo N thực hiện hành vi phạm tội, nên b cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy đ nh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật ình sự, do đó, hai b cáo phải ch u mức hình phạt bằng nhau.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các b cáo:
- Tình tiết tăng nặng:
+ B cáo guy n Th T phạm vào tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy đ nh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật ình sự;
+ B cáo Đỗ Th Kim N: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ:
+ B cáo guy n Th T: g ời phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (là tình tiết quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật ình sự).
+ B cáo Đỗ Th Kim N: Phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng; g ời phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (là tình tiết quy đ nh tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật ình sự).
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì các b cáo c n có thể b áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm m i triệu đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên t a cho thấy các b cáo không có thu nhập và không có tài sản nào khác. ên ội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các b cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, b hại bà guy n T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi th ờng nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 02 (hai) chậu cây mai vàng, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu bà guy n T là phù hợp;
- 01 (một) xe mô tô biển số 54Z3 - 0109 của guy n Th T sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra, T khai nguồn gốc chiếc xe mô tô trên là T mua của một ng ời đàn ông vào năm 2017 khi mua có giấy tờ. Qua kiểm tra nguồn gốc ph ng tiện giao thông c giới đ ờng bộ tại Công an thành phố B thì xác đ nh chủ xe là ch Vũ Th T, trú tại: 320/82, B, ph ờng 10, Quận 4, thành phố ồ Chí Minh. iện nay, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ch a làm việc đ ợc với ch T nên C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên để xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Đối với anh guy n Thanh L là ng ời chung sống nh vợ chồng với b cáo T trong cùng một ph ng trọ, khi b cáo N rủ b cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và khi các b cáo mang 02 (hai) chậu cây mai vàng về ph ng trọ, anh L đang ngủ nên không biết tài sản do các b cáo phạm tội mà có nên C quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh L là phù hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và gh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc ội buộc mỗi b cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự s thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố b cáo Đỗ Thị Kim N và Nguyễn Thị T phaïm toäi “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt b cáo Đỗ Thị Kim N mức án: 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58 Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt b cáo Nguyễn Thị T mức án 10 (Mười) tháng tù. Tổng hợp chung với hình phạt 04 (Bốn) năm tù theo Bản án số 471/2021/ S-ST ngày 22/11/2021 của T a án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng ai. Buộc b cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (Bốn) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2022, đ ợc trừ đi thời gian đã b giam giữ tr ớc đó từ ngày 21/3/2021 đến ngày 28/3/2021.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và gh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc ội buộc mỗi b cáo phải ch u 200.000đồng ( ai trăm ngàn đồng) án phí hình sự s thẩm.
Các b cáo có mặt đ ợc kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. B hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án đ ợc giao hoặc niêm yết theo quy đ nh pháp luật.
| Nơi nhận: - T a án tỉnh Đồng ai (1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng ai (1); - Viện kiểm sát nhân dân TP.B (2); - Công an TP.B (2); - T hành án hình sự (5); - B cáo, đ ng sự (3); - L u VP - ồ s vụ án (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoàng Phư ng |