- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Quốc C"
- Tòa quyết gì? ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 506/2025/DS-ST Ngày: 09 - 9 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng. 2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Bà Cao Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Thành
phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 377/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 06 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 05/2025/QĐHPT-DS ngày 09 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quốc C, sinh năm 1961.
Căn cước số: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: 30.4 C/c 2 V, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Bảo T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Căn cước số: xxxxxxxxxxxx
Thường trú: 387/4 C, phường H (trước đây là Phường A, Quận A), Thành
phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Quốc C trình bày:
Ngày 19/03/2024, ông C cho ông Bảo T vay số tiền là 200.000.000 đồng,
thời hạn vay 02 tháng, lãi suất lần 1 trả ngày 19/3/2024 là 14.000.000 đồng, lần 2 ngày 19/4/2024 trả 14.000.000 đồng. Ông T chỉ trả tiền lãi cho ông lần 1 là 14.000.000 đồng, từ đó đến nay ông T không trả tiền nợ gốc cũng như tiền lãi. Ông đã nhiều lần liên hệ nhưng ông T cố tình trì hoãn, không trả nợ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Nay ông yêu cầu Toà án buộc ông Bảo T trả lại ngay số tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật là 20%/năm; và trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày 19/05/2024 đến ngày Toà án đưa vụ án ra xét xử.
Ngày 03/9/2025, ông C rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Toà
án buộc ông T phải trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ.
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập ông Bảo T đến Toà để tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin vắng mặt tại phiên toà.
Bị đơn ông Bảo T vắng mặt không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn
thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng
như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hoà giải và phiên toà mà không có lý do, không có ý kiến phản đối, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,
xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, việc bị đơn không trả nợ khi đến hạn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Bảo T trả lại ngay số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật. Do nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông T phải trả tiền lãi do ông T chậm thực hiện nghĩa vụ nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết:
Ông Trần Quốc C khởi kiện yêu cầu ông Bảo T trả số tiền còn thiếu,
đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự. Bị đơn thường trú tại phường H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025; Điều 1, Điều 5 và Điều 6 của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
Xét, bị đơn ông Bảo T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ
án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên toà nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến, cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Xét, lời trình bày của bà Nguyễn Thị N là vợ của ông Trần Quốc C
xác định số tiền ông C cho ông T mượn là tài sản riêng của ông C không liên quan đến bà. Do đó, Hội đồng xét xử không đưa bà Nguyễn Thị N vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Về yêu cầu của nguyên đơn: [2.1] Xét, yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn
cung cấp thể hiện tại Giấy cho vay tiền ngày 19/3/2024, ông T ký nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 19/5/2024. Tuy nhiên, hết thời hạn trả nợ nhưng ông T không trả nợ, ông C cũng đã nhiều lần liên lạc để yêu cầu ông T trả nợ nhưng không liên lạc được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn không tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Toà và cũng không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện… mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định ông T nợ ông C số tiền vay là 200.000.000 đồng (1).
Xét, yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi:
Căn cứ Giấy cho vay tiền ngày 19/3/2024, hai bên có thoả thuận về lãi suất
vay, tiền lãi chia làm hai lần trả vào ngày 19/3/2024 và ngày 19/4/2024 mỗi lần là 14.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện, ông C thừa nhận có nhận một lần tiền lãi suất vào ngày 19/3/2024 với số tiền là 14.000.000 đồng. Do các đương sự không yêu cầu Toà án xem xét lại số tiền lãi vay trong thời hạn nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Các bên có thoả thuận về lãi suất khi ký hợp đồng vay tiền, tuy nhiên lãi suất các bên thoả thuận vượt quá mức quy định của pháp luật nên ông C yêu cầu ông T trả tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm là phù hợp theo quy định pháp luật. Thời hạn trả nợ vào ngày 19/5/2024 nhưng ông T không thực hiện nghĩa vụ do đó ông C yêu cầu Toà án buộc ông T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi kể từ ngày 19/5/2024 cho đến ngày Toà án đưa vụ án ra xét xử (ngày 09/9/2025) theo mức lãi suất quy định là 20%/năm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ Điều 357, điểm b khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự, điểm c khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm buộc bị đơn phải trả lãi suất 20%/năm (tương đương 0,0548%/ngày) trên số tiền nợ gốc của nguyên đơn từ ngày 20/5/2024 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (09/9/2025), cụ thể:
200.000.000 đồng x 477 ngày x 0.0548% = 52.273.973 đồng (2).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông C buộc ông T phải trả cho ông C số tiền nợ gốc và tiền lãi là (1) + (2) là:
200.000.000 đồng + 52.273.973 đồng = 252.273.973 đồng.
. Ngày 03/9/2025, nguyên đơn ông C có đơn rút một phần yêu cầu
khởi kiện về việc yêu cầu ông T phải trả lãi do ông T chậm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với yêu cầu này.
Do ông T đã vi phạm thời hạn thanh toán làm ảnh hưởng tới quyền và
lợi ích hợp pháp của ông C, do vậy yêu cầu của ông C buộc ông T phải trả ngay số nợ trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được
chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2025;
Căn cứ Điều 1, Điều 5 và Điều 6 của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP
ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Bảo T phải trả ngay cho ông Trần Quốc C số tiền là 252.273.973
(Hai trăm năm mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng), trong đó tiền nợ gốc là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng và tiền lãi là 52.273.973 (Năm mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải
thi hành án không thi hành các khoản tiền phải nộp, thì hàng tháng phải chịu thêm số tiền lãi với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Bảo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.613.699 (Mười hai triệu,
sáu trăm mười ba nghìn, sáu trăm chín mươi chín đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TPHCM; - VKSND KV 4 – TPHCM; - THADS TPHCM; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Lan |