- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Hùng - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! ! Bản án số: 506/2017/HSPT Ngày: 21/9/2017 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các thẩm phán:
1. Ông Đặng Hồng Sơn
2. Bà Huỳnh Thị Việt Tiên
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Phạm Thị Trúc Đào – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 495/2017/HSPT ngày 06 tháng 9 năm 2017 đối với các bị cáo: Nguyễn Thanh H do có đơn kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2017/HSST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn!Thanh!Hùng; Sinh năm 1988, tại tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ 5, khu phố Y, thị trấn Võ X, huyện Đức L, tỉnh Bình Th; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn L và bà Lê Thị Ch; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ Hứa Thị Thanh Th (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không triệu tập. !
NHẬN!THẤY!
Theo bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân Quận X và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Nguyễn Thanh H nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của người chạy xe ôm Grab. Để thực hiện, khoảng trưa ngày 18/12/2016, H chạy xe đến gửi tại siêu thị Lotte, Quận 7 rồi đi bộ ra phía trước siêu thị thì thấy anh Nguyễn Hiếu D mặc đồng phục Grab đang dừng xe chờ khách, H liền đi đến nói anh D chở đến chợ Xóm Ch, Quận X để đưa chìa khóa cho bạn, anh D đồng ý và chở H đi. Trên đường đi, H giả vờ lấy điện thoại của mình ra gọi và cố ý nói to cho anh D nghe với nội dung chút nữa H đến đưa chìa khóa và điện thoại của H gần hết pin. Khi đến trước cổng chợ Xóm Ch Đinh L, Phường K, Quận X thì H kêu anh D dừng xe và nói điện thoại hết pin nên mượn điện thoại của anh D để gọi bạn ra lấy chìa khóa. Do tin tưởng, anh D đưa điện thoại di động Sony Xperia M4 cho H mượn, Hùng cầm lấy điện thoại của anh D giả vờ vừa gọi điện thoại vừa nhanh chóng đi lên cầu thang lầu 1 chợ Xóm Chiếu rồi đi ra cửa khác tẩu thoát. Biết bị lừa lấy tài sản, nên anh D đã trình báo sự việc cho Ban quản lý chợ Xóm Chiếu và Công an Phường K, Quận X. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của anh D, H kiểm tra thấy có cài mật khẩu nên thuê xe ôm chở đến cửa hàng Thế giới di dộng tại đường Huỳnh Tấn P, Quận Y nói là quên mật khẩu nhờ nhân viên cửa hàng mở giúp. Sau khi mở được khóa, H đem điện thoại Sony Xperia M4 đến cửa hàng điện thoại Thái Thịnh tại đường số M, phường Tân Q, Quận Y bán cho anh Phạm Lê Thông Th được 1.300.000 đồng. Số tiền này, H tiêu xài hết 700.000 đồng, còn lại 600.000 đồng giữ trong người. Đến trưa ngày 19/12/2016 với thủ đoạn tương tự Hùng đến siêu thị Lotte, Quận Y tiếp tục thuê anh Trương Minh H cùng là người chạy xe ôm Grab chở đến chợ Xóm Ch, Quận X đưa chìa khóa cho bạn để chiếm đoạt điện thoại của anh H. Khi đến nơi, Hùng nói điện thoại hết pin rồi hỏi mượn điện thoại của anh H để gọi cho bạn. Khi được anh H tin tưởng giao điện thoại di động Samsung màu đen, H cầm lấy giả vờ bấm gọi rồi nhanh chóng đi lên lầu 1 chợ Xóm Ch tẩu thoát. Do trước đó đã được anh Nguyễn Hiếu D trình báo và qua hình ảnh camera thu được ngày 18/12/2016 nên khi phát hiện Nguyễn Thanh H, anh Huỳnh Minh M và Phan Văn Thanh T là bảo vệ chợ Xóm Ch, Quận X đã bắt giữ Hùng cùng vật chứng là điện thoại di động Samsung của anh H đưa về trụ sở Công an Phường K, Quận X. Do hành vi của Nguyễn Thanh H chiếm đoạt điện thoại Samsung của anh Trương Minh H ngày 19/12/2016, theo kết luận số 301/TCKH –HĐĐG ngày 22/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận X xác định: 01 điện thoại hiệu Samsung GT-E1050, số IMEI 354656/04/173278/6 đã qua sử dụng có giá trị 150.000 đồng nên hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã trích hồ sơ chuyển Công an Phường K, Quận X xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thanh H đồng thời ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động Samsung cho anh Trương Minh Hiếu. Tại Kết luận định giá số 302/TCKH-HĐĐG ngày 22/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận X xác định: 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia M4, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị 2.690.000 đồng; 01 vỏ ốp lưng màu đen, đã qua sử dụng có giá trị 70.000 đồng. Đối với Phạm Lê Thông Th do không biết điện thoại di động hiệu Sony Xperia M4 mà Nguyễn Thanh H đem đến bán là do phạm tội mà có và đã giao nộp lại điện thoại cho Cơ quan điều tra – Công an Quận X để trả lại chủ sở hữu nên hành vi không cấu thành tội phạm. Tại bản án số 60/2017/HSST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi bổ sung năm 2009).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra còn tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người tham gia tố tụng khác, nộp án phí của các bị cáo.
Sau khi xử sơ thẩm: Ngày 01/8/2017 bị cáo Nguyễn Thanh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm các bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án : Án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo H, đại diện Viện Kiểm sát cấp phúc thẩm xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới nào. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, và bị cáo.
XÉT!THẤY!
!
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh H cũng đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Hội đồng xét xử xét bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2017/HSST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo như nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về nội dung yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác và trật tự an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện tội phạm có dự mưu và với thủ đoạn gian dối đánh vào lòng tin của người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản, đúng như bản án sơ thẩm đã nhận định. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử mức thấp nhất của khung hình phạt là đã xem xét, cân nhắc, khoan hồng cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới nào và mức hình phạt là không nặng, do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT!ĐỊNH!
Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 139, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn!Thanh!H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/20016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm. Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM;; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận 4; (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (2) - Chi cục THA Quận 4; (1) - TAND Quận 4; (2) - Công an Quận 4; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (3) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (4) ! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! ! ! Nguyễn!Thị!Hà! |